Tháp Văn Xương
Koko Giữ trọn tuổi 25
Bán tài liệu, giáo án tất cả các môn toán, lý,hoá,sinh,văn,sử,địa,tiếng anh, công dân,

VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG -Địa 9

Chủ nhật - 25/04/2021 05:17
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG, bài 20: vùng đồng bằng sông hồng, Kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng, Văn hóa đồng bằng sông Hồng, Vùng Đồng bằng sông Hồng (tiếp theo), Tuyến điểm du lịch vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc, Vùng Đồng bằng sông Hồng, Thuận lợi và khó khăn của đồng bằng sông Hồng, Vai trò của đồng bằng sông Hồng
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG Địa 9
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG Địa 9
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG, bài 20: vùng đồng bằng sông hồng, Kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng, Văn hóa đồng bằng sông Hồng, Vùng Đồng bằng sông Hồng (tiếp theo), Tuyến điểm du lịch vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc, Vùng Đồng bằng sông Hồng, Thuận lợi và khó khăn của đồng bằng sông Hồng, Vai trò của đồng bằng sông Hồng 

VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG -Địa 9

ĐBSH rộng gần 1,3 triệu ha, chiếm 3,8% diện tích toàn quốc với một vùng biển bao quanh ở phía Đông và Đông Nam.
Số dân của đồng bằng là 17.5 triệu người (2002)

1. Vấn đề dân số:
Đồng bằng sông Hồng là nơi dân cư tập trung đông đúc nhất trong cả nước. Việc dân cư quá tập trung ở đồng bằng làm cho mật độ dân số trung bỡnh đó lờn tới 1179 người/km2 (2002). Mật độ này cao gấp gần 5 lần mật độ trung bỡnh của toàn quốc; gấp hơn 10 lần so với khu vực miền núi và trung du Bắc Bộ; gấp 14,5 lần so với Tây Nguyên
Những nơi dân cư đông nhất là Hà Nội, Thỏi Bỡnh, Hải Phũng… phía Bắc và Đông Bắc của châu thổ, dân cư thưa hơn.
          Nguyên nhân: Sự phân bố dân cư quá đông ở đồng bằng sông Hồng liên quan tới nhiều nhân tố. Nền nông nghiệp thâm canh cao với nghề trồng lúa nước là chủ yếu đũi hỏi phải cú nhiều lao động. Trong vùng cũn cú nhiều trung tõm cụng nghiệp quan trọng và một mạng lưới các đô thị khá dày đặc. Ngoài ra, đồng bằng sông Hồng đó được khai thác từ lâu đời và có các điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho hoạt động sản xuất và cư trú của con người.
Ở đồng bằng sông Hồng, dân số gia tăng vẫn cũn nhanh. Vỡ vậy, tốc độ tăng dân số chưa phù hợp với nhịp độ phát triển kinh tế - xó hội. Điều này gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế - xó hội của đồng bằng.
Việt Nam là nước có diện tích canh tác tính theo đầu người rất thấp (892m2). Trờn cỏi nền chung ấy, chỉ số này ở đồng bằng sông Hồng cũn thấp hơn nhiều do bị sức ép quá nặng nề của dân số. Ở đây, bỡnh quõn mỗi đầu người chỉ đạt khoảng ½ con số trung bỡnh của cả nước. Đất canh tác ít, dân đông nên phải đẩy mạnh thâm canh. Song nếu thâm canh không đi đôi với việc hoàn lại đầy đủ các chất dinh dưỡng sẽ làm cho đất đai ở một số nơi bị giảm độ phỡ nhiờu.
Dân số đông và sự gia tăng dân số đó để lại những dấu ấn đậm nét về KT- XH .Mặc dù mức gia tăng dân số đó giảm nhiều, nhưng sản xuất nhỡn chung chưa đáp ứng được nhu cầu tích luỹ và cải thiện đời sống nhân dân. Hàng loạt vấn đề xó hội như việc làm, nhà ở, y tế, văn hoá, giáo dục vẫn cũn là bức xỳc.
Trong nhiều năm qua, nước ta đó tiến hành phõn bố lại dõn cư và lao động trên phạm vi cả nước. Đối với đồng bằng sông Hồng, điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ngay từ năm 1961 đó cú nhiều người từ đồng bằng sông Hồng chuyển lên các tỉnh thuộc miền núi Tây Bắc và một số tỉnh thuộc miền núi Đông Bắc. Nhưng phải đến cuối những năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỉ này, việc chuyển cư mới được thực hiện với quy mô lớn.
Ngoài vấn đề chuyển cư, giải pháp hàng đầu ở đồng bằng sông Hồng là việc triển khai có hiệu quả công tác dân số và kế hoạch hoá gia đỡnh nhằm giảm tỉ lệ sinh. Đồng thời, trên cơ sở lựa chọn cơ cấu kinh tế hợp lí, từng bước giải quyết việc làm tại chỗ cho lực lượng lao động thường xuyên tăng lên, tiến tới nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân trong vùng.

2. Vấn đề lương thực, thực phẩm
Đồng bằng sông hồng là nơi có nhiều khả năng để sản xuất lương thực, thực phẩm. Trên thực tế, đây là vựa lúa lớn thứ hai của cả nước, sau đồng bằng sông Cửu Long.

Đất đai: Số đất đai đó được sử dụng vào hoạt động nông nghiệp là trên 70 vạn ha, chiếm 56% tổng diện tích tự nhiên của đồng bằng sông Hồng. Ngoài số đất đai phục vụ lâm nghiệp và các mục đích khác, số diện tích đất chưa được sử dụng vẫn cũn hơn 2 vạn ha.
Nhỡn chung, đất đai của đồng bằng sông Hồng được phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bỡnh bồi đắp tương đối màu mỡ. Tuy vậy, độ phỡ nhiờu của cỏc loại đất không giống nhau ở khắp mọi nơi. Đất được bồi đắp hàng năm màu mỡ không hơn đất không được bồi đắp hàng năm.
Cú giỏ trị nhất đối với việc phát triển cây lương thực ở đồng bằng sông Hồng là diện tích đất không được phù sa bồi đắp hàng năm (đất trong đê). Loại đất này chiếm phần lớn diện tích châu thổ, đó bị biến đổi nhiều do trồng lúa.

Nước: Ở đồng bằng, đất và nước là hai yếu tố đan quyện vào nhau. Hệ thống sông Hồng và sông Thái Bỡnh cựng cỏc nhỏnh của chỳng là nguồn cung cấp nước thường xuyên cho hoạt động nông nghiệp. Tuy nhiên, lại quá thừa nước trong mùa mưa và thiếu nước trong mùa khô.

Khí hậu: Trên nền nhiệt đới ẩm gió mùa, có một mùa đông lạnh là cơ sở quan trọng để tiến hành sản xuất nông nghiệp với hệ cây trồng vật nuôi đa dạng của ĐBSH.

Kinh tế - xó hội: cú vai trũ đáng kể trong việc phát triển sản xuất lương thực, thực phẩm. Từ bao đời nay, người dân đồng bằng sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa, đó tớch luỹ được nhiều kinh nghiệm. Đó là vốn rất quý để đẩy mạnh sản xuất. Ngoài ra, sự phỏt triển của nền kinh tế cựng với hàng loạt cỏc chớnh sỏch mới cũng gúp phần quan trọng cho việc giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm ở đồng bằng sông Hồng.

Hiện trạng sản xuất lương thực, thực phẩm:
Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, ngành trồng cây lương thực luôn giữ địa vị hàng đầu. Diện tích cây lương thực khoảng 1,2 triệu ha, chiếm khoảng 14% diện tích cây lương thực của cả nước. Sản lượng lương thực là 6,1 triệu tấn, chiếm 18% sản lượng lương thực toàn quốc (1999).
Trong các cây lương thực, lúa có ý nghĩa quan trọng nhất cả về diện tớch và sản lượng. Hàng năm, đồng bằng sông Hồng có hơn 1 triệu ha đất gieo trồng lúa. Với con số này, lúa chiếm 88% diện tích cây lương thực của đồng bằng và chiếm khoảng 14% diện tích gieo trồng lúa của cả nước (1999).
Cây lúa có mặt ở hầu hết các nơi, đạt năng suất cao nhất là 2002: đạt 56,4 tạ/ha
Mức bỡnh quõn lương thực theo đầu người ở đồng bằng sông Hồng vẫn thấp hơn mức bỡnh quõn của cả nước (414 kg/người so với 448 kg/người – năm 1999).
Rau các loại có diện tích gieo trồng hơn 7 vạn ha, chiếm 27,8% diện tích rau cả nước, tập trung chủ yếu ở vành đai xung quanh các khu công nghiệp và thành phố.
Nguồn thực phẩm của vùng đồng bằng phụ thuộc nhiều vào ngành chăn nuôi, nhất là chăn nuôi gia súc nhỏ, gia cầm và nuôi trồng thuỷ sản. Việc phát triển các ngành này cũn nhiều khả năng to lớn. Vấn đề cơ bản là giải quyết tốt cơ sở thức ăn cho gia súc nhỏ và mở rộng quy mô của ngành nuôi trồng thuỷ sản.
Hiện nay, chăn nuôi lợn rất phổ biến và thịt lợn là nguồn thực phẩm quan trọng trong bữa ăn hàng ngày của nhân dân. Đàn lợn của đồng bằng sông Hồng chỉ đứng sau vùng núi và trung du Bắc Bộ chiếm 27,2% đàn lợn của toàn quốc.
Việc nuôi, trồng thuỷ sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn đó được chú ý phỏt triển, nhưng thực tế chưa khai thác hết tiềm năng của vùng. Hiện nay toàn vùng có 5,8 vạn ha diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, chiếm 10,9% diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản của cả nước.
Việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lí (trong đó cơ cấu nông nghiệp hợp lí) của đồng bằng có thể được coi là biện pháp quan trọng. Sản xuất lương thực, thực phẩm hàng hoá được phát triển theo hướng thâm canh, đa dạng hoá gắn liền với sự nghiệp công nghiệp hoá.
Việc đẩy mạnh chăn nuôi (nhất là lợn, gia cầm), tận dụng mọi khả năng để nuôi cá nước ngọt, tôm nước lợ, đánh bắt cá biển và chế biến các sản phẩm nông nghiệp sẽ tạo điều kiện tốt để giải quyết nhu cầu thực phẩm và tăng sản phẩm xuất khẩu của đồng bằng này.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 15 trong 3 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 3 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Sữa Momcare
tỏi đen
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây