Liên hệ zalo
Phần mềm bán hàng toàn cầu
Bán tài liệu, giáo án tất cả các môn toán, lý,hoá,sinh,văn,sử,địa,tiếng anh, công dân,

Tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi Địa lý lớp 8

Chủ nhật - 25/04/2021 05:17
Tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi Địa lý lớp 8, đề thi hsg địa 8 cấp huyện 2019-2020, Giáo an bồi dưỡng HSG địa 8, bồi dưỡng học sinh giỏi địa lí 9 - phạm văn đông pdf, đề thi hsg địa 8 cấp huyện 2020-2021, Kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi Địa lý 8, Giáo AN bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 môn địa lý, Tài liệu on thi học sinh giỏi môn địa lý, Tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi Địa lí THCS
Tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi Địa lý lớp 8
Tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi Địa lý lớp 8
Tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi Địa lý lớp 8, đề thi hsg địa 8 cấp huyện 2019-2020, Giáo an bồi dưỡng HSG địa 8, bồi dưỡng học sinh giỏi địa lí 9 - phạm văn đông pdf, đề thi hsg địa 8 cấp huyện 2020-2021, Kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi Địa lý 8, Giáo AN bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 môn địa lý, Tài liệu on thi học sinh giỏi môn địa lý, Tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi Địa lí THCS 

Tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi Địa lý lớp 8

ĐỊA LÝ 8

ĐỊA LÍ CHÂU Á
BÀI 1.   KHÁI QUÁT  VỀ ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN CHÂU Á
I. Vị trí địa lí, hình dạng, kích thước và giới hạn của châu lục
1. Vị trí địa lí, hình dạng và kích thước châu Á  
          Vị trí địa lí:          
                   Điểm cực Bắc nằm ở         77044'B.
                   Điểm cực Nam ở vĩ độ        1016'B. 
                   Điểm cực Tây ở                26010'Đ.
                   Điểm cực Đông ở            169040'T. 
          Về hình dạng: châu á có bề mặt dạng hình khối vĩ đại nhất. Đường bờ biển tuy bị chia cắt mạnh, có nhiều vịnh, nhiều bán đảo lớn, nhưng do diện tích lục địa rất rộng nên sự chia cắt lãnh thổ theo chiều ngang vẫn không đáng kể. Phần lục địa có dạng hình khối như vậy làm cho các vùng trung tâm của lục địa như Trung Á và nội Á nằm cách bờ biển rất xa, có nơi tới 2.500 km.
Về kích thước:
Diện tích: Phần đất liền: 41,5 triệu km2 (cả các đảo: 44,4 triệu Km2.
Châu á nằm trải dài trên một không gian rất rộng, khoảng cách từ cực Bắc xuống cực Nam tới gần 8.500 km và từ bờ tây sang bờ đông lên tới gần 9200 km.
          *Như vậy: châu á có vị trí nằm kéo dài từ vùng cực cho tới xích đạo, có kích thước khổng lồ và có bề mặt dạng khối vĩ đại. Đó là những điều kiện cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành khí hậu và cảnh quan tự nhiên.
             2. Giới hạn của châu Á.
          Châu á, trừ phần phía tây giáp với châu Âu bằng đất liền, phía tây nam nối liền với châu Phi bằng một eo đất nhỏ là eo Xuyê, còn 3 mặt giáp với các biển và đại dương rộng lớn.
          Phía bắc giáp Bắc Băng D­ương - Đây là đại dương nằm trên các vĩ độ cận cực và cực, thời tiết quanh năm giá buốt, mặt biển bị bao phủ bởi một lớp băng rất dày.
            Phía đông giáp Thái Bình Dương
          Phía đông nam - nơi tiếp giáp giữa Thái Bình Dương và ấn Độ Dương có một hệ thống các bán đảo, đảo và quần đảo, các biển và vịnh biển xen kẽ nhau rất phức tạp, đó là khu vực Đông Nam Á.
          Phía nam, châu Á tiếp giáp với ấn Độ Dương. Bờ biển ở đây bị cắt xẻ mạnh, tạo thành 3 bán đảo lớn là Trung Ấn, Ấn Độ và Arabi.
Tóm lại, các biển và đại dương bao quanh châu Á không những làm giới hạn tự nhiên cho lục địa mà còn ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện tự nhiên cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia hải đảo và ven bờ. Đặc biệt, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương rộng lớn bên cạnh châu á khổng lồ tạo nên sự tương phản mạnh mẽ giữa biển và đất liền, là một trong những nguyên nhân làm cho hoàn lưu gió mùa phát triển và phân bố rộng ở châu Á hơn bất kì một châu lục nào khác trên thế giới.
II. Đặc điểm địa hình và khoáng sản
          1. Đặc điểm địa hình
         Địa hình châu Á rất phức tạp và đa dạng, 3/4 diện tích là các núi, sơn nguyên và cao nguyên cao, chỉ có 1/4 diện tích là các đồng bằng thấp và bằng phẳng. Nhìn chung, các đồng bằng, các sơn nguyên rộng và bằng phẳng hình thành trên các vùng nền và có chế độ kiến tạo tương đối yên tĩnh.  Còn các vùng núi hình thành trong các đới uốn nếp, được nâng lên mạnh vào cuối Tân sinh.
          Về cấu trúc địa hình châu Á có 3 đặc điểm chính sau:
- Châu Á có đầy đủ các kiểu địa hình khác nhau: các núi cao, sơn nguyên, cao nguyên và đồng bằng lớn xen các thung lũng rộng và bồn địa kín...
Các địa hình đó nằm xen kẽ với nhau làm cho bề mặt địa hình châu lục bị chia cắt rất mạnh.
- Các hệ thống núi châu Á chạy theo 2 hướng chính:
          + Hướng đông tây hoặc gần với đông tây
          + Hướng bắc nam hoặc gần với bắc nam
          - Sự phân bố các dạng địa hình không đồng đều. Các hệ thống núi và sơn nguyên cao nhất đều tập trung ở gần trung tâm lục địa, tạo thành một vùng núi cao, đồ sộ và hiểm trở nhất thế giới.
          à Cấu trúc địa hình như vậy có tác dụng phân chia ảnh hưởng của các đại dương đối với lục địa: phần bắc chịu ảnh hưởng của Bắc Băng Dương, phần phía đông chịu ảnh hưởng của Thái Bình Dương, phần phía nam và tây nam chịu ảnh hưởng của Ấn Độ Dương và Địa Trung Hải.
          3. Khoáng sản
      Nguồn khoáng sản của châu Á rất phong phú và có trữ lượng lớn. Các loại có trữ lượng lớn là dầu mỏ, than đá, sắt, các kim loại màu như đồng, chì, thiếc và bôxít.
BÀI 2 -  KHÍ HẬU
             I/- Đặc điểm khí hậu châu Á
1. Khí hậu Châu Á phân hóa rất đa dạng và phức tạp:
a. Khí hậu châu Á phân chia thành nhiều đới và nhiều kiểu khí hậu khác nhau - hay nói cách khác, Châu Á có gần như đầy đủ các đới và các kiểu khí hậu trên Trái đất:
Từ Bắc xuống Nam dọc theo kinh tuyến 800Đ có các đới:
1. Đới khí hậu cực và cận cực
2. Đới khí hậu ôn đới      Kiểu ôn đới lục địa
Kiểu ôn đới gió mùa
          Kiểu ôn đới hải dương
3. Đới khí hậu cận nhiệt                
Kiểu cận nhiệt địa trung hải
Kiểu cận nhiệt gió mùa
Kiểu cận nhiệt lục địa
Kiểu cận nhiệt núi cao
4. Đới khí hậu nhiệt đới                                
Kiểu nhiệt đới khô
Kiểu nhiệt đới gió mùa
          b. Khí hậu châu Á phổ biến là các kiểu khí hậu gió mùa và các kiểu khí hậu lục địa:
          + Các kiểu khí hậu gió mùa:
          Gồm các loại: kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa phân bố ở Nam Á và ĐNA, kiểu khí hậu cận nhiệt gió mùa và ôn đới gió mùa phân bố ở Đông Á.
          Đặc điểm thời tiết: trong năm có 2 mùa rõ rệt, mùa dông có gió từ nội địa thổi ra , không khí lạnh và khô, lượng mưa không đáng kể. Mùa hạ có gió từ biển thổi vào, thời tiết nóng ẩm và mưa nhiều đặ biệt là Nam Á và ĐNA là 2 khu vực có mưa vào loại nhiều nhất Thế giới.
          + Các kiểu khí hậu lục địa:
          Phân bố chủ yếu trong các vùng nội địa và khu vực Tây Nam Á.
          Đặc điểm thời tiết: mùa đông khô và lạnh, mùa hạ khô và nóng. Lượng mưa thấp 200-500mm, độ bốc hơi lớn nên độ ẩm không khí thấp. Hỗu hết đều phát triển cảnh quan hoang mạc và bán hoang mạc.
          c. Nguyên nhân của sự phân hóa đa dạng phức tạp trên của khí hậu châu á:
1. Do lãnh thổ nằm trải dài từ vùng cực Bắc cho đến vùng xích đạo nên châu á có nhiều đới khí hậu khác nhau.
2. Kích thước lãnh thổ rộng lớn, địa hình có các dãy núi và các sơn nguyên cao ngăn ảnh hưởng của Biển không xâm nhập sâu vào trong đất liền, nên trong mỗi đới lại chia thành nhiều kiểu khí hậu khác nhau.
3. Châu Á có nhiều núi cao, đồ sộ nhất thế giới nên khí hậu nơi đây lại có thêm sự phân hóa theo chiều cao.
 II/. Phân tích hoàn lưu gió mùa ở Châu Á
            1. Gió mùa  mùa đông:
           Về mùa đông, không khí vùng trung tâm (Xibia) bị hoá lạnh mạnh, nhiệt độ trung bình tháng 1 xuống tới - 400C đến - 500C. Do hoá lạnh, trên lục địa hình thành một cao áp, gọi là cao áp Xibia. Vào giữa mùa đông, áp cao Xibia bao phủ gần như toàn bộ châu Á.
          Cũng trong thời gian này, ở tây bắc châu Âu có áp thấp Aixơlen phát triển và kéo dài tới các biển phía bắc châu Á. Vì vậy, ở phía tây bắc và bắc lục địa có gió tây nam thổi từ nội địa về phía bắc, gây ra thời tiết khô và lạnh.
          ở phía đông, áp thấp Alêut cũng phát triển mạnh, bao phủ gần toàn bộ bắc Thái Bình Dương, làm cho Đông Á mùa này cũng có gió từ lục địa thổi ra biển theo hướng tây bắc - đông nam, thời tiết khô và rất lạnh.
          Phần phía nam lục địa, khí áp giảm dần từ bắc xuống nam và sau đó chuyển sang đới áp thấp xích đạo. Sự tương phản khí áp như vậy đã làm cho các bán đảo Trung ấn, Ấn Độ và Arap về mùa này có gió mùa đông bắc, lạnh và khô xen kẽ với gió mậu dịch thời tiết khô và tương đối nóng.
          Như vậy, về mùa đông, trên toàn bộ châu lục đều có gió từ lục địa thổi ra biển. Thời tiết khắp nơi khô và lạnh. Nhiệt độ giảm dần từ nam lên bắc và phần lớn lãnh thổ có nhiệt độ < 00C.
          2. Gió mùa mùa hạ:
          Về đầu mùa hạ, không khí trên lục địa nóng dần lên, áp cao Xibia suy yếu rồi biến mất.
          Còn ở phía nam, trên sơn nguyên Iran hình thành một áp thấp (áp thấp Iran) Vào giữa mùa hạ, áp thấp Iran cùng áp thấp Bắc Phi và áp thấp xích đạo tạo thành một đai áp thấp bao phủ phần lớn châu Á và gần toàn bộ Bắc Phi.
          Về mùa hạ ở Bắc và Trung Á có gió bắc và đông bắc thổi từ bắc xuống, nên thời tiết ở các vùng này khô khan, không có mưa.
          ở Đông Á, lúc này áp thấp Alếut cũng biến mất và thay vào đó là áp cao Ha-oai bao phủ gần toàn bộ Bắc Thái Bình Dương, làm cho toàn bộ khu vực có gió đông nam từ biển thổi vào mang lại thời tiết nóng, ẩm, mưa nhiều.
          Ở bán cầu nam, vào thời kì này tồn tại một đai áp cao liên tục từ lục địa úc đến lục địa Phi. Gió mậu dịch đông nam ở bán cầu Nam vượt qua xích đạo, đổi hướng và trở thành gió mùa tây nam thổi vào các vùng Nam Á và Đông Nam Á, mang theo khối khí xích đạo nóng ẩm và gây mưa lớn, nhất là trên các sườn đón gió.
          Riêng  vùng Tây Nam Á, do ảnh hưởng của áp cao Axo ở phía tây nên có gió tây bắc thời tiết khô và rất nóng.
          Như vậy, về mùa hạ trên toàn lục địa có gió từ biển hoặc gió từ các lục địa khác thổi tới, các vùng Đông Á, Đông Nam Á và Nam Á có mưa nhiều. Lục địa được sưởi nóng nên khắp nơi có nhiệt độ > 00C . Các vùng Trung Á và Tây Nam Á là những nơi nóng nhất, có nhiệt độ trung bình từ 300C - 350C.
      * Kết quả của hoàn lưu gió mùa không chỉ hình thành chế độ thời tiết mà còn quyết định sự phân bố mưa trên lục địa. ở châu Á, lượng mưa phân bố không đều. ở các vùng có gió từ biển thổi vào, lượng mưa hàng năm lớn. Trái lại, các vùng nằm sâu trong nội địa hay các vùng bị khuất gió thì có mưa rất ít. Ví dụ: các vùng Nam Á và Đông Nam Á là những nơi có mưa nhiều nhất, lượng mưa trung bình năm từ 1.500 - 2.000mm ở đồng bằng và từ 2.500 - 3.000mm trên các sườn đón gió. Trái lại, ở Tây Nam á, Trung Á và Nội Á là những nơi có mưa ít nhất, trung bình hàng năm nhỏ hơn 300mm.

Download file Tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi Địa lý lớp 8

​​​​​​​

Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 1 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

DANH MỤC TÀI LIỆU
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây