Tháp Văn Xương
Bán tài liệu, giáo án tất cả các môn toán, lý,hoá,sinh,văn,sử,địa,tiếng anh, công dân,
Koko Giữ trọn tuổi 25

100 câu hỏi về biển đảo Việt Nam file word hay cho GV, HS tham khảo

Thứ sáu - 22/01/2021 08:31
100 câu hỏi về biển đảo Việt Nam file word hay cho GV, HS tham khảo, Câu hỏi trắc nghiệm về biển đảo Việt Nam, 500 câu hỏi đáp về biển, đảo việt nam, 100 câu hỏi - đáp về biển, đảo, Câu hỏi về biển đảo cho học sinh Tiểu học, Bài thi tìm hiểu về biển, đảo Việt Nam, Những câu hỏi về biển đảo có đáp an, Bạn hãy cho biết năm 1933
100 câu hỏi về biển đảo Việt Nam file word hay cho GV, HS tham khảo
100 câu hỏi về biển đảo Việt Nam file word hay cho GV, HS tham khảo
100 câu hỏi về biển đảo Việt Nam file word hay cho GV, HS tham khảo, Câu hỏi trắc nghiệm về biển đảo Việt Nam, 500 câu hỏi đáp về biển, đảo việt nam, 100 câu hỏi - đáp về biển, đảo, Câu hỏi về biển đảo cho học sinh Tiểu học, Bài thi tìm hiểu về biển, đảo Việt Nam, Những câu hỏi về biển đảo có đáp an, Bạn hãy cho biết năm 1933, Pháp đã sáp nhập Trường Sa vào tỉnh nào thời điểm đó, tìm hiểu về biển, đảo việt nam năm 2020, Câu hỏi tình huống về biển đảo, Tìm hiểu về biển đảo Việt Nam, 40 câu hỏi trắc nghiệm về biển đảo, Tỉnh nào sau đây của nước ta không có đơn vị hành chính biển đảo, Những câu hỏi về biển đảo Việt Nam, 500 câu hỏi đáp về biển, đảo việt nam, Những câu hỏi về biển đảo có đáp an, Câu hỏi về biển đảo cho học sinh Tiểu học, Câu hỏi tình huống về biển đảo, Bài thi tìm hiểu về biển, đảo Việt Nam, Câu hỏi về biển đảo Việt Nam có đáp an, Biển đảo Việt Nam, Bài thi tìm hiểu về biển, đảo Việt Nam, 100 câu hỏi - đáp về biển, đảo, Những câu hỏi về biển đảo có đáp an, Bạn hãy cho biết năm 1933, Pháp đã sáp nhập Trường Sa vào tỉnh nào thời điểm đó, Câu hỏi tình huống về biển đảo, Câu hỏi về biển đảo cho học sinh Tiểu học, Tìm hiểu về biển đảo Việt Nam, Câu đố về biển đảo, 

100 câu hỏi về biển đảo Việt Nam file word hay cho GV, HS tham khảo

Lời nói đầu
Bin Việt Nam là mt bphn không tách rời và
chiếm vị ttrọng yếu trong bình đBiển Đông - mt
khu vc đa lý giàu tài nguyên thiên nhiên, nhưng cũng cha đng nhiều mâu thuẫn lợi ích liên quan đến các tranh chấp chquyền bin, đảo phc tp và kéo dài trong lch s.
Biển gắn bó với bao thế hngười Vit, là không gian sinh tồn và phát triển ca dân tộc ta, là chda sinh kế cho hàng triu người dân Việt Nam ta đến nay. Trong vùng “biển bạc”, mi hòn đảo không chnhư nhng thỏi “vàng xanhmà còn là một “cột
mc chquyềntnhiên ca quốc gia. Biển thng
liêng là vậy, vì thế bảo vệ và phát trin vì sự trường tồn ca bin, đảo quê ơng là sự nghiệp ca toàn Đng, toàn Quân và toàn Dân ta.

Đbảo vệ ch quyn biển, đảo ca Tổ quc, tc tn, tuổi trẻ nước ta phải hiu thu đáo các vấn đề về tài nguyên và môi trưng bin; về không gian biển, đảo ca đất nước; về ch quyền, quyền ch quyền và quyền tài phán quốc gia đối với các vùng biển, đảo; về chtơng, chính sách và pháp luật ca Đng và Nhà  nước  ta  đối  với  nhng  vấn  đề  biển,  đảo  nói chung và Biển Đông nói riêng. Với nhng nhận thc đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc, lớp trẻ Việt Nam hôm nay sẽ là nhng sứ giả tạo nên sự kết nối trong toàn xã hội, thúc đẩy nhng hành đng thiết thc vào trong cng đng, vì bin, đảo quê hương.
Đại dương và biển là di sản ca tương lai, cho nên không phải ngẫu nhiên Thông điệp Ngày đại ơng thế giới năm 2011-2012 được Liên Hợp quốc chọn là:
Tuổi trẻ - nguồn sc mạnh để bo vệ đại dương!”.
Nhận thc được sứ mệnh và tính tiên phong ca tuổi trẻ trong sự nghip xây dng và bo vệ Tổ quốc trong hội nhập và phát triển đt nưc, Ban Tuyên go Trung ương phi hp vi một số chuyên gia đại diện cho mt số cơ quan có liên quan tchc bn soạn cun sách  100 câu Hi - Đáp vbin, đảo dành cho tuổi trVit Nam. Cu trúc cun sách gm 03 phn:

(1) Hỏi - Đáp về vị trí, vai trò và tiềm năng của biển, đảo Việt Nam.

(2) Hi - Đáp vcác vn đề liên quan đến các quyn và bảo vệ các quyền ca Việt Nam trong Biển Đông.

(3) Hỏi - Đáp về xây dựng và phát trin các lĩnh vc liên quan đến bin, đảo Vit Nam.

Cun sách là cẩm nang cần thiết, giúp cho thế htrViệt Nam nói chung, hc sinh và sinh vn Việt Nam nói riêng có cái nhìn tng quan vbiển, đo Vit Nam, tng bước nâng cao nhận thc về vị trí, vai tca biển, đảo đi vi snghiệp xây dng và bo v Tquốc nhằm thc hin lời dạy ca Chủ tch Hồ Chí Minh: “Các vua ng đã có công dng nưc, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ ly nưc”. Tuổi trẻ Việt Nam cần thc hiện tốt vai trò, trách nhiệm ca công dân biển; hăng hái đi đầu trong hc tp, đy mạnh nghn cứu

khoa hc vnh vực biển ngang tầm với tnh đca các nước tiên tiến trong khu vc và trên thế giới; góp phần đưa nưc ta trthành quốc gia mạnh vbiển, giàu tbin.

Ban Tuyên giáo Trung ương xin trân trng cảm ơn sự phối hợp hiệu quca các chuyên gia, các nhà khoa hc, các ban, nnh, tchc để xây dng nên cuốn sách này. Trong lần xuất bản đầu, cun sách có thcòn nhng hn chế, Ban Biên soạn rất mong nhận được nhng ý kiến đóng góp ca độc giả để cuốn sách được hoàn thin hơn trong lần xuất bn sau!

Xin trân trng giới thiu cùng bn đọc!

BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG


​Phần một
Vị  trí,  điều  kiện  tự  nhiên  của Biển Đông?
Biển Đông là một biển nửa kín, có diện tích khoảng 3,5 triệu
km2, trải rộng từ 3o vĩ Bắc đến 26o vĩ Bắc và từ 100o kinh Đông đến
121o kinh Đông; là một trong những biển lớn nhất trên thế giới với
90% chu vi được bao bọc bởi đất liền. Có 9 nước tiếp giáp với Biển Đông là Việt Nam, Trung Quốc, Phi-líp-pin, In-đô-nê-xia, Bru-nây, Ma-lai-xia, Xin-ga-po, Thái Lan, Cam-pu-chia và một vùng lãnh thổ là Đài Loan. Theo ước tính sơ bộ, Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của khoảng 300 triệu dân các nước này. Biển Đông không chỉ là địa bàn chiến lược quan trọng đối với các nước trong khu vực mà còn của cả Châu Á - Thái Bình Dương và Châu Mỹ.
Biển Đông còn là nơi  chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh, đặc biệt là nguồn tài nguyên sinh vật, khoáng sản, du lịch, đồng thời đây cũng là khu vực đang chịu sức ép nhiều về bảo vệ môi trường sinh thái biển.
Biển Đông được coi là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới. Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu đã được kiểm chứng ở Biển Đông là 07 tỉ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày. Theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỷ thùng, trong đó trữ
lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng. Với trữ lượng này, sản lượng khai thác có thể đạt khoảng 18,5 triệu tấn/năm duy trì liên tục trong vòng 15 - 20 năm tới(1).
Ngoài ra, theo các chuyên gia, khu vực Biển Đông còn chứa đựng lượng lớn tài nguyên khí đốt đóng băng (băng cháy). Trữ lượng loại tài nguyên này trên thế giới ngang bằng với trữ lượng dầu khí và đang được coi là nguồn năng lượng thay thế dầu khí
trong tương lai.
Vai trò của Biển Đông đối với thế giới và Việt Nam?
Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu Á. Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới. Mỗi ngày có khoảng 150 -
200 tàu các loại qua lại Biển Đông. Nhiều nước và vùng lãnh thổ ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào tuyến đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Xin-ga-po và cả Trung Quốc. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua Biển
 Đông. Biển Đông có những eo biển quan trọng như eo biển Ma-lắc-ca,eo biển Đài Loan là những eo biển khá nhộn nhịp trên thế giới. Do đó, Biển Đông có vai trò hết sức quan trọng đối với tất cả các nước trong khu vực về địa - chiến lược, an ninh quốc phòng, giao thông hàng hải và kinh tế.

Xét về an ninh, quốc phòng, Biển Đông đóng vai trò quan trọng là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước. Các đảo và quần đảo trên Biển Đông, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không chỉ có ý nghĩa trong việc kiểm soát các tuyến đường biển qua lại Biển Đông mà còn có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với Việt Nam.

Nước ta giáp với Biển Đông ở ba phía Đông, Nam và Tây Nam. Các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam là một phần Biển Đông trải dọc theo bờ biển dài khoảng 3.260 km, từ Quảng Ninh đến Kiên Giang, với nhiều bãi biển đẹp như Trà Cổ, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Cam Ranh, Vũng Tàu... Như vậy, cứ 100 km2  lãnh thổ đất liền có 1 km bờ biển, tỷ lệ này cao gấp 6 lần tỷ trung bình của thế giới (600 km2 đất liền có 1 km bờ biển). Không một nơi nào trên lục địa của Việt Nam lại cách xa bờ biển hơn 500 km.

Việt Nam có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rộng lớn theo Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982; có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm giữa Biển Đông và hàng nghìn đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ các vùng biển và thềm lục địa.
Biển Đông đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai. Không chỉ cung cấp nguồn thức ăn cho cư dân ven bờ từ hàng nghìn năm nay, Biển Đông còn tạo điều kiện để phát triển các ngành kinh tế  và là
cửa ngõ để Việt Nam có quan hệ trực tiếp với các vùng miền của đất nước, giao thương với thị trường khu vực và quốc tế, là nơi trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hoá.

Về kinh tế, Biển Đông tạo điều kiện để Việt Nam phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn như thủy sản, dầu khí, giao thông hàng hải, đóng tàu, du lịch…

Ngoài ra, ven biển Việt Nam còn chứa đựng tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng như titan, zircon, thiếc, vàng, đất hiếm… trong đó cát nặng, cát đen là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước.

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở trung tâm Biển Đông, rất thuận lợi cho việc đặt các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu thuyền... phục vụ cho tuyến đường hàng hải trên Biển Đông.

Bản đồ Việt Nam và Biển Đông

  Đặc điểm địa lý cơ bản của các vùng biển Việt Nam?
Việt Nam là một quốc gia biển lớn nằm ven bờ tây Biển Đông. Trong Biển Đông, liên quan tới Việt Nam có hai vịnh (gulf) lớn là vịnh Bắc Bộ ở phía tây bắc, rộng khoảng 130.000 km2  và vịnh Thái Lan ở phía tây nam, diện tích khoảng 293.000 km2. Đây là biển duy nhất nối liền hai đại dương - Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Biển Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ gió mùa thịnh hành hướng Đông Bắc và Đông Nam. Vì thế, biển Việt Nam gánh chịu nhiều rủi ro thiên tai và sự cố môi trường biển trên Biển Đông, đặc biệt từ các loại dầu tràn và dầu thải không rõ nguồn gốc đưa vào vùng bờ biển nước ta.

Chế độ khí hậu vùng biển Việt Nam khác nhau ở ba miền khí hậu chủ yếu: (i) Miền khí hậu phía bắc từ đèo Hải Vân trở ra, có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh, (ii) Miền khí hậu phía nam từ Đà Nẵng vào tới các tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long, có chế độ khí hậu gió mùa nhiệt đới cận xích đạo với 2 mùa mưa và khô rõ rệt, nhiệt độ luôn cao, (iii) Miền khí hậu Biển Đông có chế độ khí hậu mang tính chất gió mùa nhiệt đới biển. Vùng Biển Đông nói chung và biển Việt Nam nói riêng là khu vực chịu nhiều thiên tai bão, tố, biến đổi khí hậu và có nguy cơ sóng thần. Trung bình hàng năm có khoảng 8 cơn bão đổ bộ vào vùng
biển và nội địa Việt Nam và dự báo sóng thần có thể sẽ xuất phát từ các hẻm vực sâu ven bờ tây Phi-lip-pin (Palawan) và chỉ sau 02 giờ sẽ tiếp cận đến bờ biển Nha Trang.

Chế độ hải văn ven bờ cũng biến tính rõ. Chế độ dòng chảy bề mặt và sóng biến đổi theo mùa gió trong năm, cả về hướng chảy và cường độ. Các đặc trưng khí hậu - hải văn nói trên góp phần hình thành các vùng địa lý - sinh thái khác nhau, kéo theo thế mạnh tài nguyên sinh vật và tiềm năng phát triển khác nhau.

Khu vực biển nông thuộc thềm lục địa địa lý (đến độ sâu 200 m) chiếm toàn bộ diện tích vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan, vùng biển trước châu thổ sông Cửu Long và thắt hẹp lại ở miền Trung nước ta.

Biển Việt Nam là một bộ phận quan trọng của Biển Đông, bao gồm vùng nội thủy, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa (theo quy định của Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982).

Hình thế phần đất liền của Việt Nam hẹp chiều ngang (không có nơi nào cách biển trên 500 km) với đường bờ biển dài trên 3.260 km (không kể bờ các đảo) chạy theo hướng  kinh tuyến, kéo từ Móng Cái (Quảng Ninh) ở phía đông bắc xuống tới Hà Tiên (Kiên Giang) ở phía tây nam. Bờ biển Việt Nam khúc khuỷu, nhiều eo, vụng, vũng/vịnh ven bờ và cứ 20 km chiều dài đường bờ biển lại bắt gặp một cửa sông lớn với tổng số khoảng 114 cửa sông đổ ra biển, chủ yếu từ phía lục địa Việt Nam. Đặc biệt, Việt Nam có hai đồng bằng châu thổ rộng lớn và phì nhiêu ven biển là đồng bằng châu thổ sông
Hồng ở phía bắc và đồng bằng châu thổ sông Cửu Long ở phía nam. Lượng nước và phù sa lớn nhất đổ vào Biển Đông hàng năm chính là từ các hệ thống sông của hai đồng bằng này. Bên cạnh việc bổ sung nguồn dinh dưỡng cho biển Việt Nam và Biển Đông, các hệ thống sông này cũng đổ ra biển không ít chất gây ô nhiễm môi
trường biển và vùng cửa sông ven biển nước ta.
Việt Nam có bao nhiêu tỉnh, thànhphố  có  biển?  Hãy  kể  tên  các  tỉnh, thành phố đó.
Về mặt hành chính, hiện nay ở nước ta có 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó có 28 tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương có biển, với 125 huyện ven biển và 12 huyện đảo. Đây là những đơn vị hành chính đóng vai trò quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh, chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Từ bắc vào nam, 28 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương có biển là các tỉnh và thành phố: Quảng Ninh, Tp. Hải Phòng, Thái Bình,  Nam  Định,  Ninh  Bình,  Thanh  Hóa,  Nghệ  An,  Hà  Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Tp. Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tp. Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và  Kiên Giang.

Vài nét cơ bản về các khu vực biển,hải đảo của Việt Nam trên Biển Đông?

Biển, hải đảo nước ta nằm trong Biển Đông bao gồm nhiều khu vực khác nhau, nhưng nổi bật và có những đặc điểm cần chú ý hơn là Vịnh Bắc Bộ,  Vịnh Thái Lan, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và một số đảo, quần đảo khác.

1. Vịnh Bắc Bộ

Vịnh Bắc Bộ nằm về phía tây bắc Biển Đông, được bao bọc bởi bờ biển và hải đảo của miền Bắc Việt Nam ở phía tây; bởi lục địa Trung Quốc ở phía bắc; bởi bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam ở phía Đông. Vịnh Bắc Bộ trải rộng từ khoảng kinh tuyến
105036’ Đông đến khoảng kinh tuyến 109055’ Đông, trải dài từ vĩ
tuyến  21055’  Bắc  đến  vĩ  tuyến  17010’  Bắc. Diện  tích  khoảng
126.250 km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 310 km và nơi hẹp nhất khoảng 220 km.

Vịnh  Bắc  Bộ  là vịnh  tương  đối  nông,  độ  sâu  trung  bình khoảng từ 40 - 50 m, nơi sâu nhất khoảng 100 m; đáy biển tương đối bằng phẳng, độ dốc nhỏ. Thềm lục địa thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam ra biển khá rộng, độ dốc thoải và có một lòng máng sâu trên 70 m gần đảo Hải Nam của Trung Quốc. Bờ vịnh khúc khuỷu và ven bờ có nhiều đảo. Phần vịnh phía Việt Nam có hàng ngàn đảo lớn, nhỏ, trong đó đảo Bạch Long Vĩ diện tích 2,5 km2 cách đất liền Việt Nam 110 km, cách đảo Hải Nam của
Trung Quốc 130 km. Vịnh Bắc Bộ có nhiều nguồn lợi hải sản (trữ lượng cá của Việt Nam khoảng 44 vạn tấn) và tiềm năng dầu khí.

Vịnh Bắc Bộ có hai cửa thông với bên ngoài: Cửa phía Nam ra trung tâm Biển Đông, nơi hẹp nhất rộng khoảng 240 km, cửa phía Đông qua eo biển Quỳnh Châu (nằm giữa bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam) ra phía bắc Biển Đông, nơi hẹp nhất khoảng 18 km.

2. Vịnh Thái Lan

Vịnh  Thái  Lan  nằm  ở  phía  Tây  Nam  của  Biển  Đông, được  bao  bọc  bởi  bờ  biển  Việt  Nam,  Cam-pu-chia,  Thái  Lan, Ma-lai-xi-a.
Vịnh  Thái  Lan  có  diện tích  khoảng  293.000  km2,  chu  vi khoảng 2.300 km, chiều dài vịnh khoảng 628 km. Đây là một vịnh nông, nơi sâu nhất chỉ khoảng 80 m. Đảo Phú Quốc là đảo lớn nhất của Việt Nam, diện tích 567 km2.

Vịnh Thái Lan có nhiều nguồn lợi hải sản (trữ lượng cá của Việt Nam khoảng 51 vạn tấn) và có tiềm năng dầu khí lớn mà hiện nay các nước liên quan đang tiến hành thăm dò, khai thác.

3. Các đảo và quần đảo

Vùng biển ven bờ Việt Nam có khoảng 2.773 hòn đảo lớn, nhỏ, chủ yếu nằm ở Vịnh Bắc Bộ, số còn lại phân bố ở khu vực biển Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nam. Ngoài ra, có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở giữa Biển Đông.

Căn cứ vị trí chiến lược và các điều kiện địa lý, kinh tế, dân cư người ta có thể chia các đảo, quần đảo thành các nhóm:
- Hệ thống đảo tiền tiêu, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên các đảo có thể lập những căn cứ kiểm soát vùng biển, vùng trời nước ta, kiểm tra hoạt động của tàu, thuyền, bảo đảm an ninh quốc phòng, xây dựng kinh tế, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Đó là các đảo, quần đảo: Hoàng Sa, Trường Sa, Chàng Tây, Thổ Chu, Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Bạch Long Vĩ...

- Các đảo lớn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Đó là các đảo như: Cát Bà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc…

- Các đảo ven bờ gần đất liền, có điều kiện phát triển nghề cá, du lịch và cũng là căn cứ để bảo vệ trật tự, an ninh trên vùng biển và bờ biển nước ta. Đó là các đảo thuộc huyện đảo Cát Bà (Hải Phòng), huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), huyện đảo Phú Quý (Bình Thuận), huyện đảo Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), huyện đảo
Lý Sơn (Quảng Ngãi), huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang) v.v.​

 

file 100 câu hỏi về biển đảo Việt Nam file word hay cho GV, HS tham khảo

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Sữa Momcare
tỏi đen
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây