Liên hệ zalo
Bán tài liệu, giáo án tất cả các môn toán, lý,hoá,sinh,văn,sử,địa,tiếng anh, công dân,
Phần mềm bán hàng toàn cầu

VỘI VÀNG

Thứ ba - 20/09/2022 01:25
vội vàng - xuân diệu bài thơ, bài vội vàng - ngữ văn 11, Lời bài thơ Vội vàng, Bài thơ Vội vàng, Chép lại bài thơ vội vàng, bài thơ vội vàng - xuân diệu sgk, Vội vàng chuyển Văn, vội vàng xuân diệu - wiki
VỘI VÀNG
VỘI VÀNG
vội vàng - xuân diệu bài thơ, bài vội vàng - ngữ văn 11, Lời bài thơ Vội vàng, Bài thơ Vội vàng, Chép lại bài thơ vội vàng, bài thơ vội vàng - xuân diệu sgk, Vội vàng chuyển Văn, vội vàng xuân diệu - wiki
 

VỘI VÀNG

~Xuân Diệu~
  1. KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG
  1. Xuân Diệu (1916 – 1985) tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu, bút danh khác là Trảo Nha. Quê cha của Xuân Diệu ở Hà Tĩnh nhưng ông sinh ra và lớn lên ở Quy Nhơn.
Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức ở Mĩ Tho (nay là Tiền Giang), sau đó ông ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn, là thành viên của Tự lực văn đoàn. Tham gia Mặt trận Việt Minh từ trước Cách mạng tháng Tám 1945, Xuân Diệu hăng say hoạt động trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, gắn bó cuộc đời mình với nền văn học cách mạng.
  1. Trước Cách mạng, thơ Xuân Diệu là tiếng nói thiết tha với cuộc đời. Xuân Diệu biết hưởng thụ, thèm hưởng thụ mọi cái đẹp, cái vui trong cuộc sống và qua thơ, tặng cho độc giả những thứ quý báu đó. Ông được Hoài Thanh mệnh danh là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới”. Xuân Diệu đã đem đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới dào dạt, trẻ trung, sôi nổi, thể hiện một quan niệm nhân sinh mới mẻ cùng với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo.
Từ sau Cách mạng, thơ Xuân Diệu hướng mạnh vào thực tế đời sống và giàu tính thời sự. Ông cổ vũ và hăng hái thể nghiệm khuynh hướng tăng cường chất hiện thực trong thơ. Xuân Diệu là một cây bút có sức sáng tạo mãnh liệt, dồi dào, bền bỉ, có đóng góp to lớn trên nhiều lĩnh vực đối với nền văn học Việt Nam hiện đại.
  1. Vội vàng được in trong tập Thơ thơ (1938) là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám. Bài thơ thể hiện rất rõ ý thức cá nhàn của “cái tôi” thơ mới, mang đậm bản sắc riêng của hổn thơ Xuân Diệu. Vội vàng là lời giục giã hãy sống hết mình, hãy quý trọng từng giây, từng phút của đời mình, nhất là những tháng năm tuổi trẻ của một tám hồn thơ yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt. Tư tưởng đó được thể hiện qua một hình thức nghệ thuật điêu luyện, độc đáo.
  1. HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN
  1. Bài thơ là dòng cảm xúc mãnh liệt, dào dạt, tuôn trào nhưng vẫn tuân theo mạch luận lí, có bố cục chặt chẽ góp phần làm cho bài thơ vận động vừa rất tự nhiên về cảm xúc vừa rất chật chẽ về luận lí. Bài thơ như là một dòng chảy dào dạt, hồn nhiên của tâm trạng.
  2. Thời gian của tự nhiên thì luôn tuân thủ theo quy luật vận động bất biến. Nhưng quan niệm về thời gian, sự cảm nhận về thời gian thì ở mỗi thời đại và ở mỗi cá nhân lại có thể có những nét khác nhau.
Ở Xuân Diệu và nhất là trong Vội vàng, Xuân Diệu đã đưa ra một quan niệm mới, một cảm nhận mới về thời gian. Nếu các nhà thơ trung đại quan niệm thời gian là tuần hoàn, là vĩnh cửu thì Xuân Diệu, nhờ tri thức khoa học của thời đại và ảnh hưởng của văn hoá phương Tây đã nhận ra thời gian vận động tuyến tính, một đi không trở lại. Thời gian thật sự khắc nghiệt, đời người có hạn và tuổi xuân ngắn ngủi.
Thực ra thì từ xa xưa, nhiều thi nhân đã từng than thở về sự ngắn ngủi của đời người. Người ta gọi kiếp người là “áng phù vân”, là “bóng câu qua cửa sổ”,… Nhưng do xuất phát từ cái nhìn tĩnh tại, có tính siêu hình, lấy sinh mệnh vũ trụ để làm thước đo thời gian nên quan niệm thời gian là tuần hoàn. Thời ấy, cá nhân chưa tách khỏi cộng đồng, con người còn gắn làm một với vũ trụ, cho nên người ta vẫn đinh ninh người chết chưa hẳn là hư vô, vẫn có thể cùng với cộng đồng và trời đất tuần hoàn. Vì thế nhân vật trữ tình trong thơ ca trung đại thường ở tư thế ung dung, tự tại, bình tĩnh, ít thấy có sự vội vàng, cuống quýt để “sống gấp”.
Đến thế hệ các nhà thơ mới, khi ý thức cá nhân đã trỗi dậy mạnh mẽ, quan niệm về thời gian như trên đã hoàn toàn đổ vỡ. Xuân Diệu đưa ra một quan niệm mới, chống đối lại quan niệm thời gian tuần hoàn của người xưa. Với “ông hoàng” Xuân Diệu, thời gian là tuyến tính, một đi không trở lại. Vũ trụ không ngừng vận động, thời gian luôn luôn chảy trôi, mỗi giây phút trôi qua là mất đi vĩnh viền.
Quan niệm này xuất phát từ cái nhìn động, rất biện chứng về vũ trụ và thời gian: Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già.
Nhà thơ đã lấy cái quỹ thời gian hữu hạn của đời người, thậm chí lấy khoảng thời gian quý giá nhất của mỗi cá nhân là tuổi trẻ để làm thước đo thời gian. LờI thơ được cấu trúc thành một cuộc tranh biện, theo đó nhà thơ khẳng định dẫu vũ trụ có thể vĩnh viễn, thời gian có thể tuần hoàn, nhưng “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”:
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất. Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lợi!
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Nhìn thấu sự trôi chảy quá nhanh chóng, một đi không trở lại của thời gian nên cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu là cảm nhận đầy tính mất mát, mỗi khoảnh khắc trôi qua là một sự mất mát, chia lìa: “Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi – Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt”. Mỗi sự vật trong vũ trụ đang từng giây, từng phút ngậm ngùi chia li, tiễn biệt một phần của đời mình:
Con gió xinh thì thào trong lá biếc, Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi? Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi, Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
Cách cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu, xét đến cùng là do ý thức sâu sắc về “cái tôi” cá nhân, về sự tồn tại có ý nghĩa của mỗi cá nhân trên đời, nâng niu trân trọng từng giây, từng phút của cuộc đời, nhất là những năm tháng tuổi trẻ. Trong hoàn cảnh bình thường của đất nước, đây là một quan niệm và thái độ sống tích cực, thấm đượm tư tưởng nhân văn.
Vì thời gian chảy trôi vội vã nên không thể không níu thời gian ở lại: Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất; Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi.
Nhưng đó chỉ là một mong ước không bao giờ thực hiện được. Vậy chỉ còn một cách thôi: hãy mau lên, “vội vàng” lên để tận hưởng những giây phút tuổi xuân của mình, tận hưởng những gì mà cuộc đời ban tặng cho mình: “Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng – Cho no nê thanh sắc của thời tươi”. Đó là niềm khát khao sống sôi nổi, mãnh liệt của thanh niên, của tuổi trẻ.
  1. Vội vàng cuống quýt níu giữ thời gian, khát khao sống dạt dào cảm xúc với thời trai trẻ, Xuân Diệu đã phát hiện ra có một thiên đường ngay trên mặt đất này, không xa lạ mà rất đỗi thân quen, ở ngay trong tầm tay của mỗi chúng ta. Hình ảnh thiên nhiên và sự sống quen thuộc hiện ra qua cái nhìn và sự cảm nhận độc đáo của nhà thơ.
Hình ảnh thiên nhiên và sự sống được Xuân Diệu gợi lên vừa gần gũi, thân quen, vừa quyến rũ, đầy tình tứ. Nhà thơ đã phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và thổi vào đó một tình yêu rạo rực, đắm say, ngây ngất:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si; Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Hình ảnh thiên nhiên và sự sống, qua cảm nhận của Xuân Diệu, như đã nói, còn nhuốm màu chia li, mất mát: “Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi […] – Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?”. Đây chính là hình ảnh thiên nhiên và cuộc sống được cảm nhận qua lăng kính thời gian, một thời gian trôi qua nhanh chóng, một đi không trở lại.
Thiên nhiên qua con mắt Xuân Diệu đều nhuốm màu tình tứ, đều tràn ngập xuân tình, tràn đầy sắc dục. Đó là cái nhìn lấy con người làm chuẩn mực cho thiên nhiên, quy chiếu thiên nhiên về vẻ đẹp của giai nhân: “Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”, “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”, “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”. Đây là một cách nhìn rất mới, rất Xuân Diệu.
Qua cách miêu tả hình ảnh thiên nhiên, Xuân Diệu đã thể hiện một quan niệm mới về cuộc sống, về tuổi trẻ và hạnh phúc. Đối với Xuân Diệu, thế giới này đẹp nhất, mê hồn nhất là vì có con người giữa tuổi trẻ và tình yêu. Thời gian quý giá nhất của mỗi đời người là tuổi trẻ, mà hạnh phúc lớn nhất cửa tuổi trẻ chính là tình yêu. Đó là một quan niệm mới, tích cực, thấm đượm tinh thần nhân văn.
  1. Đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ và nhịp điệu của đoạn thơ cuối bài:
-Hình ảnh trong đoạn thơ cuối gần gũi, quen thuộc mà tươi mới, giàu sức sống, đầy quyến rũ và tình tứ. Đó là những hình ảnh rất táo bạo, đầy cảm giác và có tính sắc dục.
-Ngôn từ của bài thơ tự nhiên, gần với lời nói thường, nhưng đã được nâng lên thành nghệ thuật, cảm xúc dào dạt, mãnh liệt đã tạo nên những làn sóng ngôn từ vừa đan vào với nhau, vừa cộng hưởng với nhau theo chiều tăng tiến. Tác giả dùng dồn dập những động từ mạnh, tăng tiến chỉ động tác đắm say; nhiều danh từ chỉ vẻ đẹp thanh tân, tươi trẻ; nhiều tính từ chỉ xuân sắc; nhiều điệp từ, điệp cú pháp có tác dụng nhấn mạnh ý.
-Nhịp điệu của đoạn thơ dồn dập, sôi nổi, hối hả, cuồng nhiệt.
  1. Tình yêu cuộc sống tha thiết đắm say của nhà thơ Xuân Diệu.
    1. Đoạn 1: 4 câu đầu.
“ Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi”
  • Điệp cấu trúc: Tôi muốn ...cho à nhấn mạnh khao khát cháy bỏng.
+ Tắt nắng: để giữ màu cho cuộc sống, để gam màu cuộc sống không phai nhạt đi
+ Buộc gió: giữ hương cho đời, để hương thơm cuộc đời không bay mất.
à Khao khát lưu giữ mãi vẻ đẹp cuộc sống như hiện tại, hoàn hảo, chắn đứng bước đi của thời gian để giữ lại khoảnh khắc như hiện tại.
à Thể hiện tình yêu cuộc sống tha thiết đắm say cuộc sống.
  • Điệp từ “ đừng” à lời cầu xin khẩn thiế, cầu xin tạo hóa dừng đi bản năng vô biên để cuộc sống nó luôn như vậy.
  • Xuân Diệu giống như vị chỉ huy và cũng giống như một đứa trẻ.
    1. Đoạn 2: 9 câu thơ tiếp theo.
“ Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi. Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa. Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.”
  • Vẻ đẹp thiên nhiên của mùa xuân trần thế.
  • Điệp cấu trúc      “ Của này đây”.            Đảo vị trí
“ Này đây của”.       luyến láy, liệt kê
à Tác giả phơi bày ra những vẻ đẹp không tả xiết ở cõi trần gian, vẻ đẹp gần gũi, với tay ra có thể ôm trọn nó vào lòng mình hưởng thụ.
  • Căng mở các giác quan để quan sát vẻ đẹp trần thế ( liên hệ: “ Sống toàn tâm, toàn trí, sống toàn hồn/ Sống toàn thân và thức nhọn giác quan.”) vẻ đẹp toàn vẹn cả hương vị lẫn thanh sắc của cuộc đời.
+ Vị ngọt của ong bướm tuần trăng mật.
+ Có hương thơm màu sắc của vườn hoa đồng nội
+ Dáng hình uyển chuyển của lá trên cành cây.
+ Âm thanh tình tứ của khúc tình xi.
+ Ánh sáng của bình minh xuân – chớp hàng mi.
à Bữa tiệc thịnh soạn gõ cửa mang niềm vui đến mọi người, dâng tặng cho từng nhà
à Quan điểm mới mẻ của Xuân Diệu, cuộc sống xung quanh đẹp lắm, Xuân Diệu không cần đi tìm vẻ đẹp ở đâu xa chỉ cần quan sát ở xung quanh mình.
  • So sánh với các nhà thơ Phật giáo: “ Cuộc đời của mỗi người sinh lão bệnh tử là điều không tránh khỏi” dẫn dắt ta đi tìm cuộc sống cực lạc ảnh hưởng đến những nhà thơ kính đời ở ẩn.
  • Chế Lan Viên với Xuân Diệu, Xuân Diệu say mê với vẻ đẹp cuộc sống, Chế Lan Viên “ Tôi có chờ đâu, có đợi đâu” tìm nơi khác đáng sống hơn, chối bờ thực tại “ Đêm thu buồn quá chị Hằng ơi” à Quan điểm mới mẻ tiến bộ, Xuân Diệu không quay lưng với cuộc đời, cuộc đời hiện tại là cuộc đời đáng sống nhất.
  • Vẻ đẹp thiên nhiên của mùa xuân tình yêu.
  • Khu vườn mùa xuân đã biến thành khu vườn tình yêu, hạnh phúc.
+ Ong bướm vạn vật gắn kết trong tuần trăng mật yêu đương hạnh phúc.
+ Hoa trong đồng nội được khoe sắc khoe hương trên nền xanh rì.
+ Lá của cành tơ phơ phất uyển chuyển, mềm mại.
+ Yến anh.
+ Xuất hiện gương mặt của người đẹp.
à Thi nhân đã biến thành người tình nhân say đắm khu vườn tình yêu hạnh phúc.
  • Xuân Diệu khái quát lại “ Tháng giêng ngon như cặp môi”.
+ “ Tháng giêng” à tháng đầu của mùa xuân, mùa xuân ở trong trạng thái căng tràn sức sống.
+ So sánh khập khiễng xa lạ, quan hệ từ ngang bằng “ như” ( phép tương giáo – cảm quan tương ứng).
+ Cặp môi hồng à trạng thái căng mộng của tuổi trẻ à hợp lí gợi cảm.
+ “ Ngon” à biện pháp chuyển đổi cảm giác à thiên nhiên là khái niệm vô hình trừu tượng bỗng trở nên hữu hình, cụ thể ( vị giác) à cảm nhận vẻ đẹp của mùa xuân, hưởng thụ một cách rõ nét, trọn vẹn hơn.
+ Quan điểm thẩm mỹ mới mẻ tiến bộ, quan điểm thiên nhiên là chuẩn điểm của cái đẹp >< con người là chuẩn điểm của cái đẹp ( Liên hệ: So với nền văn học thơ ca trước đây, thiên
nhiên là chuẩn điểm của cái đẹp, làm nổi bật con người “ Vân xem trang trọng khác vời, mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” thì trong thơ của Xuân Diệu con người là chuẩn điểm của cái đẹp, nổi bật vẻ đẹp của thiên nhiên, thiên nhiên đẹp như cặp môi gần “ Lá liễu dài như một nét mi” à vẻ đẹp riêng lạ, đẹp, trọn trọn vẹn.
  • Nếu như nhà thơ Huy Cận được xem là cặp bài trùng với Xuân Diệu, ông ám ảnh bước đi của không gian thì Xuân Diệu ám ảnh bước đi của thời gian, thời gian chảy trôi sẽ không cảm nhận được vẻ đẹp cuộc sống ( Liên hệ: “Cái bay không động cái trôi/ Từ tôi phút trước sang tôi phút này”).
à Mong muốn sống từng giây, từng phút của cuộc sống.
  • Cảm xúc suy tư của Xuân Diệu.
  • Dấu chấm giữa dòng thơ à đã ngắt đôi câu thơ, diễn tả hai cảm xúc của Xuân Diệu
+ Sung sướng khi đang tận hưởng vẻ đẹp của cuộc sống.
+ Vội vàng à nhận thức sự chảy trôi của mùa xuân, tiếc nuối tuổi thanh Xuân à bản lề khép mở.
  • Dấu hai chấm à giải thích à thể hiện sự tiếc nuối mùa xuân ngay khi ở tháng giêng, căng mở giác quan để cảm nhận mùa xuân, thời gian không phải là tuần hoàn.
  • Mùa xuân là ẩn dụ cho tuổi trẻ của con người àmùa xuân của con người trở nên hữu hạn, tuổi trẻ không thể quay trở lại, sống lại lần nữa.
  1. Đoạn 3: Quan điểm mới về thời gian.
Cũ >< mới.
  • “ Xuân khứ bách khoa lạc, xuân đáo bách khoa lai” Nhìn thời gian tuần hoàn, tâm thế ung dung “ Đi đâu mà vội mà vàng” >< “ Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại” tuần hoàn cảm xúc chán chường, ngán ngẫm, tuổi xuân không quay trở lại, thời gian tuyến tính, tâm thế vội vàng.
à Thỏa mãn nhận thức với trí thức đương thời, quan điểm thời gian tuyến tính “ Không ai tắm hai lần trên một dòng sông, không ai sống hai lần trong một kỉ niệm” ( Liên hệ: Những người đẹp ngà xưa đâu rồi, những nhà mệnh phù pháp, tuyết mỗi năm tan một lần, làm sao tìm lại tuyết năm xưa”).
  • Hai câu đầu:
“ Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”.
-Nhịp ngắt               3/2/3. Tuần tự hai 3/2/3.                 câu thơ.
à Bước đi của thời gian.
  • Điệp cấu trúc: “ Xuân ... nghĩa là” ( kiểu câu định nghĩa) à nhấn mạnh quy luật bước đi tuyến tính của thời gian.
  • Cặp từ đối lập: Đương tới >< đương qua.
Còn non >< sẽ già.
à Sự vận hành của thời gian trôi qua lạnh lùng vô thủy vô trung, diễn tả dòng thời gian tuyến tính ( Liên hệ: “ Tình yêu đến tình yêu đi, Ai biết trong gặp gỡ đã có mầm li biệt” ) à ám ảnh thời gian trôi qua.
*7 câu thơ tiếp:
“ Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất. Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất rời;”
  • Kiểu câu định nghĩa “ nghĩa là” à nhấn mạnh quy luật, dòng thời gian tác động tiêu cực đến đời người.
+ Xuân hết – tôi mất , mất đi phần đời của mình, cuộc đời của mình.
  • Dựng lên cặp đối lập:
+ Lượng trời chật >< lòng rộng.
+ Xuân tuần hoàn >< tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại.
+ Còn trời đất >< chẳng còn tôi mãi.
à Vô hạn của trời đất >< hữu hạn của cuộc đời.
à Trời đất hẹp hòi không muốn dành tặng >< càng đau đớn, con người càng khao khát trường sinh bất tử.
à Diễn tả sự hữu hạn của đời người trong sự vô hạn của trời đất, diễn tả quy luật:
+ Lượng trời chật.
+ Lấy đi tuổi trẻ, tuổi xuân của mọi người ( tuổi trẻ chẳng hai lần).
+ Lấy đi cả cuộc đời của mỗi người.
à Thời gian tác động tiêu cực đến cuộc sống mỗi người.
à Bâng khuâng tiếc cuộc đời đẹp qua không thể sống hết để tận hưởng, tình yêu đời, lòng ham sống đến cuồng nhiệt đắm say.
*8 câu thơ cuối:
“ Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt Con gió xinh thì thào trong lá biếc Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa ... Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,”.
  • Tác giả dùng biện pháp chuyển đổi cảm giác:
+ Tháng năm có mùi vị, cảm nhận bằng giác quan khứu giác, vị giác, có hình ảnh, cảm nhận bằng giác quan thị giác.
à Tác giả hữu hình hóa, khái niệm tháng năm vô hình trừu tượng trở thành hữu hình, có mùi vị đau xót của chia ly, hình dáng vết thương tâm hồn rớm máu à lạnh lùng phôi pha nhiều thứ.
+ Lí do: “ Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt” à giác quan thính giác.
+ “ Thì thào” à từ láy.
+ Rộn ràng à đứt tiếng reo thi.
à Nhận ra sự bào mòn của thời gian.
  • Cảm xúc: Sự nuối tiếc phần đời trôi qua, sự hưởng thụ à nền tảng cho sự khao khát cháy bỏng.
  1. Đoạn 4: Giải pháp tận hưởng vẻ đẹp của cuộc đời.
“ Ta muốn ôm!
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và câ, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”.
  • Cuộc sống càng vận động hối hả thì nhà thơ càng đau đớn, tuổi trẻ phai đi không trở lại, Xuân Diệu đi tìm giải pháp để ngăn lại dòng chảy lạnh lùng thời gian để giữ hương, sắc cho cuộc đời.
  • Khao khát cháy bỏng cuồng nhiệt, giọng thơ dồn dập, náo nức, mê say.
  • Thay đổi đại từ xưng hô: “ Ta” ( liên hệ bài thơ mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải) à không còn là mong muốn hưởng thụ ích kỷ mà mong muốn hòa vào cái ta dâng những gì đẹp nhất cho cuộc đời, hoà hợp với mong muốn của cộng đồng, mong muốn khả thi.
  • Sử dụng động từ mạnh à cấp độ tăng tiến dần.
+ Ôm, riết, say, thâu, cắn.
à Diễn tả Khao khát hưởng thụ tận hưởng bằng tất cả các giác quan, tăng cường sự sống để hưởng thụ vẻ đẹp của cuộc đời, cụ thể hóa giải pháp tích cực, căng mở giác quan để chiến thắng bước đi của thời gian ( liên hệ: “ Sống toàn tâm, toàn trí, sống toàn hồn/ Sống toàn thân và thức nhọn giác quan.” ) à căng mở giác quan.
  • Bổ ngữ sau động từ:.
+ Ôm cả sự sống mới.
+ Riết mây đưa.
+ Say cánh bướm.
+ Thâu trọng một cái hôn nhiều.
+ Non nuớc, cây, cỏ làng.
+ Thanh sắc của thời tươi.
+ Xuân hồng.
à Bày ra bàn tiệc của cuộc đời.
  • Liên từ “ và” “cho” , lặp từ “ và” “cho” à nhấn mạnh vẻ đẹp cuộc đời nhiều vô cùng, không kể hết, đầy ăm ắp mở ra để mời mọc.
  • Tính từ: chếnh choáng, no nê, đã đầy à từ láyà diễn tả sự thỏa mãn tột cùng.
  • Khép lại bằng mong muốn:
+ Lời mời gọi “ Hỡi xuân Hồng” à cảm xúc cao trào.
Mùa xuân đã trở thành nhân vật, con người à trở nên hữu hình, có màu sắc, thân thiết.
+ Bút pháp chuyển đổi cảm xúc: Xuân à Xuân hồngà Khao khát muốn cắn, hưởng thụ một cách trọn vẹn nhất.
Tổng kết.
  1. Giá trị nội dung:
  • Quan điểm mới mẻ về thời gian, tuổi trẻ, hạnh phúc: Thời gian một đi không trở lại, tuổi trẻ là phần đẹp đẽ quý giá nhất của cuộc đời vì vậy mỗi chúng ta phải sống vội vàng từng giây từng phút, vội vàng đó là tâm thế sống, giải pháp sống trong thời gian tuyến tính, tận hiến, tận hưởng cuộc đời.
  1. Đặc sắc nghệ thuật
  • Trộn hoà cảm xúc nồng nàn với triết luận sâu sắc.
  • Biện pháp nghệ thuật: thể thơ tự do, trùng điệp, hình ảnh sáng tạo, ngôn từ mới mẻ.
à Nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới.
MỞ RỘNG
  • Trong tác phẩm Nhà văn hiện đại, nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan viết: “Với những nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân, dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía”. Nhận định của Vũ Ngọc Phan chủ yếu nói về
lòng yêu đời, yêu cuộc sống mãnh         liệt trong thơ Xuân Diệu. Đó là “giọng yêu đời thấm thía”. Lòng yêu đời ấy, theo Vũ Ngọc Phan, xuất phát từ hai nguồn cảm hứng (cũng là hai đề tài xuyên suốt trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng), có quan hệ mật thiết với nhau: tình yêu và tuổi trẻ (“yêu đương và tuổi xuân”). Dù ở tâm trạng nào (“lúc vui hay lúc buồn”), thơ Xuân Diệu cũng bộc lộ lòng yêu đời ấy.
  • Lại những câu thơ vừa cực tả vẻ đẹp, sức sống của mùa xuân, vừa cực tả lòng yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt, say mê của nhà thơ. Để diễn tả những điều đó, nhà thơ dùng những từ ngữ, hình tượng thiên về cảm giác và hành động : ta muốn ôm, ta muốn riết, ta muốn say, ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều, cho chếnh choáng, cho đã đầy, cho no nê,
… và cuối cùng : ta muốn cắn… Tuy vậy, cần thấy rằng nhà thơ rất biết giới hạn niềm say mê nồng nhiệt của mình, không để rơi vào sự rồ dại, thác loạn.
Đúng như lời Hoài Thanh nhận xét: “Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết.”. Thơ Xuân Diệu sống động như chính sự sống.
Qua thơ Xuân Diệu, ta cũng thấy rõ sức sống của tiếng nói Việt Nam, câu thơ Việt Nam, có thể diễn tả được mọi cung bậc của cuộc đời, mọi trạng thái tình cảm của con người, từ tĩnh lặng nhất đến sôi nổi nhất.
Đã có những lúc, đã có những người quá khắt khe với thơ Xuân Diệu, cho rằng những bài thơ như Vội vàng trên đây khuyến khích lối “sống vội”, “sống gấp”, cổ vũ cho thứ nhân sinh quan hưởng thụ, dẫn thanh niên vào con đường hư hỏng. Phải nói rằng, nếu cảm hiểu không đúng thì bài thơ cũng có chứa đựng nguy cơ đó. Nó là con dao sắc hai lưỡi, có thể giúp người mà cũng có thể hại ngươi. Tuy nhiên, lại phải nói rằng, đây là một bài thơ ưu tú của một nhà thơ ưu tú ; tác dụng tích cực của bài thơ là chính. Thơ là tiếng nói trực tiếp của tình cảm, không thể đòi hỏi bài thơ phải là bài giảng về đạo đức. Song một bài thơ như bài Vội vàng không phải phi đạo đức mà có đạo đức. Nếu được cảm hiểu đúng đắn và sáng tạo, nó giúp cho con người biết yêu sự sống, yêu cuộc đời, yêu quý tuổi trẻ “chẳng hai lần thắm lại”. Với một ý thức và tình cảm như vậy, mọi con người có tâm hồn và tư tưởng lành mạnh sẽ biết tận hưởng hạnh phúc riêng chân chính của tuổi trẻ, của cuộc đời, đồng thời lại biết đem tuổi trẻ của mình xây dựng hạnh phúc chung tốt đẹp cho cuộc đời, cho mọi người, không lãng phí ngày xuân, tuổi trẻ một cách vô ích để rồi hối tiếc…
(Theo Trần Thanh Đạm, Làm văn (sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000), NXB Giáo dục)
*Phân tích 1:
Vội vàng là một bài thơ hay của nhà thơ Xuân Diệu in trong tập: “Thơ thơ” xuất bản năm 1938. Bài thơ đã để lại cho các thế hệ học trò một ấn tượng sâu sắc về Xuân Diệu, cùng một quan niệm nhân sinh hết sức mới mẻ hiện đại của ông.
Trong thời đại ngày nay, thời đại của khoa học công nghê phát triển, nền kinh tế thị trường đang không ngừng can thiệp và chi phối mọi hoạt động xã hội và tư duy của con người. Chúng ta đã thấy được cả mặt ưu việt lẫn hạn chế của vấn đề này. Riêng về lĩnh vực giáo dục học trò cũng đã đang đặt ra bao điều khó khăn phức tạp. Cùng lúc chúng ta thấy xuất hiện nhiều quan niệm và có thể phân loại được nhiều đối tượng. Chúng ta nhận thấy trong tầng lớp trẻ còn có những quan niệm về cuộc sống rất lệch lạc. Chẳng hạn: Tự do vô kỷ luật, sống buông thả, vô trách nhiệm, sống gấp, sống vội, lạnh lùng, vô cảm…và đặc biệt là tính tự giáo dục rất thấp... Có không ít bạn trẻ đang lúng túng không biết nên hiểu về quan niệm nhân sinh trong thời hiện đại như thế nào? Nhưng, có một sự thật là khi được học bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu các em học trò đều cảm thấy tâm đắc và dường như đã tìm thấy một lời giải đáp cho quan niệm sống đúng đắn của mình. Từ thực tế của bài giảng, tôi muốn khẳng định giá trị thẩm mỹ và giá trị giáo dục cao của bài thơ xuất sắc này.
Vậy làm thế nào để hướng cho học trò hiểu được đúng hướng bài thơ “Vội vàng” độc đáo của Xuân Diệu?
Trước hết, sau khi giới thiệu về tiểu sử Xuân Diệu, giáo viên cùng học sinh nhấn mạnh hai đặc điểm trong thơ ông trước cách mạng:
  • Yêu đời ham sống đến cuồng nhiệt
  • Bi quan chán nản
Giáo viên nói rõ: Lòng yêu đời ham sống đến cuồng nhiệt có những biểu hiện nào?
Thứ nhất, Xuân Diệu không lẩn trốn thực tại mà quấn quýt lấy cõi trần:
Không muốn đi mãi mãi ở vườn trần Chân hoá rễ để hút mùa dưới đất

Kẻ đựng trái tim trìu màu đất Hai tay chín móng bám vào đời

Thứ hai, Xuân Diệu luôn có ý thức về sự trôi chảy của thời gian.

(Thanh niên)


(Hư vô)
Trong thơ ông chịu ảnh hưởng nhiều của trường phái thơ tượng trưng Pháp. Khi còn trẻ ông đã nghe Baudelaire rên xiết:
Ôi đau đớn !Ôi đau đớn !Thời gian ăn cuộc đời
Xuân Diệu sợ thời gian, ghét thời gian:
Gấp lên em anh rất sợ ngay mai Đời trôi chảy lòng ta không vĩnh viễn
(Giục giã)
Thứ ba, Ông là nhà thơ của tình yêu - tuổi trẻ
Quan niệm tình yêu của ông thiên về khao khát thoả mãn cuộc sống vĩnh viễn, vô cùng “Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ. Mà vạn vật là muôn đá nam châm”.
“Đây là quán tha hồ muôn khách đến”. Ông mở rộng tâm hồn và chào mời tất cả và muốn lòng mình như phấn thông trên bãi biển bay vàng cả trời đất mênh mông đem tình yêu đi khắp thế gian .
Thứ tư, Xuân Diệu luôn vội vàng , cuống quýt lo sợ cuộc sống tàn phai:
Mau với chứ, vội vàng lên với chứ Em em ơi, tình non sắp già rồi
(Giục giã) Xuân Diệu yêu đời nhưng cũng rất bi quan tạo nên nét biện chứng trong thơ ông trước cách mạng:
Hiu hắt nhỉ bốn phương trời vò võ Lạnh lùng chăng sầu một đỉnh chon von

Lòng anh là một cơn mưa lũ Bắt gặp lòng em là lá khoai

(Hy Mã Lạp Sơn) (Nước đổ lá khoai)
Đặc biệt lòng yêu đời ham sống của ông được thể hiện rõ trong bài thơ “Vội vàng”:
Giáo viên cùng học sinh chia đoạn sau đó đi vào phân tích:
Mở đầu, Ông nói lên một khao khát kì lạ:
Tôi muốn tắt nắng đi Tôi muốn buộc gió lại
Nắng, gió là là thuộc về thiên nhiên vĩnh hằng, vậy mà ông muốn níu giữ lại quy luật cuộc sống để “màu đừng nhạt, hương đừng bay đi”. Cần nói rõ màu sắc, hương thơm là tinh hoa
của trời đất vũ trụ dâng tặng. Đó là vẻ đẹp của cuộc sống. Vậy, tác giả muốn lưu giữ vẻ đẹp ấy thành vĩnh cửu, đó là một ước muốn táo bạo.
Phần hai, Tác giả nêu cảm nhận của mình vè cuộc sống thông qua mùa xuân.
Đó là một bức tranh về cuộc sống sinh sôi, đang phát triển, đang dâng đầy màu sắc, âm thanh, ánh sáng:
Này đây: - Tuần tháng mật
-Hoa
-Lá cành
-Khúc tình si
-Ánh sáng chớp hàng mi.
Nghệ thuật điệp ngữ để liệt kê, để khái quát một bức tranh sinh động tươi mới về mùa xuân được cảm nhận từ sự phát triển, sự nảy lộc đâm chòi đầy sức sống của muôn loài.
Cuộc sống được vẽ ra như một thiên đàng ngay trên mặt đất mà mỗi sáng sớm “Thần Vui hằng gõ cửa”. Dư vị thời gian mùa xuân được cảm nhận “ngon như một cặp môi gần”. Tác giả tự hào hãnh diện say mê vì độ sung mãn của mùa xuân. Tác giả như đang nhập vào nhịp sống của mùa xuân để cảm nhận vẻ đẹp, sức sống và làm bừng thức dậy ánh sáng của sức sống ấy, truyền đến mọi người vẻ đẹp dâng trào của mùa xuân. Và, làm bừng sáng những vẻ đẹp của cuộc sống mà chưa mấy ai thấy.
Phần 3, Ý thức vể sự trôi chảy của thòi gian
Nhịp thơ đang hân hoan bỗng thay đổi đột ngột: Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa. Dấu chấm giữa dòng tách thành hai câu thơ diễn tả hai nét tâm trạng: Vui và bi quan thất vọng.
Tác giả đang háo hức mê say bỗng đột nhiên thay đổi vì tận thấy quy luật nghiệt ngã của thời gian:
Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất .
Mùa xuân hay là sức xuân, tuổi trẻ, cuộc sống cá nhân của con người hữu hạn còn thời gian thì vô hạn. Chính mâu thuẫn này gây nên cảm giác lo sợ, hốt hoảng, niềm vui không trọn vẹn.
Bằng cách lý giải, hình ảnh cái tôi tác giả hiện lên thật tội nghiệp, lo sợ, tiếc nuối và cảm nhận sâu xa sự chia li tiễn biệt về sự trôi đi của thời gian:
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt
Tác giả cảm giác hoá về thời gian, cảm nhận dược cái dư vị đắng chát của sự tách vỡ, chia lìa trong vạn vật do thời gian thay đổi. Cuộc sống là dòng chảy của sự vận động vì vậy tác giả nhớ mùa xuân ngay cả khi mùa xuân đang tồn tại. Đỉnh cao của sự lo sợ tiếc nuối được thể hiện trong câu:
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời
Sự tiếc nuối vô cùng tham lam, ôm trọn cả không gian, trời đất vô thuỷ vô chung. Ông giục giã mình, giục giã người vội vàng tận hưởng vẻ đẹp cuộc sống “Mau đi thôi” - vội vàng, cuống quýt.
Phần cuối, Cao trào của khát vọng sống:
Đại từ “Ta” thay cho đại từ “Tôi”: Cá nhân tự hoá thành rộng lớn để ôm trọn bao trùm cuộc sống, thống lĩnh cuộc sống. Tác giả dùng một loạt động từ mạnh: Ôm, riết, say, thâu, cắn, diễn tả cảm giác nắm bắt, chiếm lĩnh cuộc sống ở mức giao hoà tuyệt đích vĩnh viễn.
Ở đây, giáo viên cần lý giải rõ: Xuân Diệu yêu đời ham sống đến cuồng nhiệt, đến vội vàng cuống quýt là bởi ông muốn cảm nhận cuộc sống trong mọi chiều kích của thời gian, không gian.
Để tránh hiểu sai: Vội vàng tức là sóng gấp sống vội để tận hưởng về vật chất. Ở đây Xuân Diệu ham hố cuồng nhiệt là chiếm lĩnh cuộc sóng trong chiều sâu tình thần, trong tâm hồn tình cảm.Vội vàng hoàn toàn không hiểu theo nghĩa “Đi đâu mà vội mà vàng.Mà quơ phải đá mà quàng phải dây”.
Xuân Diệu yêu cuộc sống mãnh liệt, vội vàng nhưng không rơi vào rồ dại, thác loạn. Đằng sau thái độ vội vàng lo sợ kia chính là một cái tôi cô đơn
Ta là MỘT, là RIÊNG, là THỨ NHẤT
Xuân Diệu “vội vàng” vì ông hiểu và trân trọng giá tri của cuộc sống. Nó là phần tinh tuý mà trời đất ban tặng, nhưng cuộc đời con người thì hữu hạn.
Yêu cuộc sống, Xuân Diệu nhìn cuộc sống dù ở góc độ nào cũng thấy nó thật đẹp và đáng quý trọng. Ông đã từng quan niệm buổi chiều thu là một bài thơ duyên mà ở đó con người và tạo vật, con người và con người gắn bó với nhau như một cặp vần. Đó phải là một cái nhìn về cuộc sống hết sức tài hoa và nhạy cảm, tinh tế, với một tầm văn hoá cao.
Xuân Diệu cảm nhận được cả những mối liên hệ mong manh nhưng vô cùng bền vững của cuộc sống ở chiều sâu tinh vi nhất:
Không gian như có dây tơ Bước đi sẽ đứt động hờ sẽ tiêu
(Chiều) Vì vậy ông cảm thấy luôn lo sợ cuộc sống trôi chảy, tàn phai. Ông chạy đua với thời gian với vạn vật. Ông hối hả vồ vập trước cuộc sống để sống tốt, sống đẹp hơn.
Từ đó Giáo viên dẫn dắt học sinh đi đến liên hệ :
Trong cuộc sống thực tại, bên cạnh những con người ưu tú, những quan niệm sống tích cực, có lý tưởng đáng để cho chúng ta ngưỡng mộ, vẫn còn những quan niệm sống tâm thường. Chẳng hạn: Sống gấp, sống vội thiên về thụ hưởng vật chất, sống ươn hèn yếu đuối..., lạnh lùng, vô cảm, phi nhân tính…
Vậy, chúng ta càng thấy rõ giá trị đích thực của bài thơ “Vội vàng”. Bài thơ với hình ảnh táo bạo, khơi gợi cảm giác, bút pháp trữ tình tâm trạng và cảm xúc, tứ thơ hăm hở cuống quýt, cú pháp Tây phương, lối qua hàng hết sức thoải mái… xứng đáng đươc xem là tiếng gọi đàn, là lời tập hợp, là tiếng thức tỉnh con người: hãy sống và tận hưởng đầy đủ ý nghĩa của cuộc sống trong mọi chiều kích của thời gian, không gian một cách tuyệt đích, vĩnh viễn. Đó thật sự là một quan niệm nhân sinh mới mẻ hiện đại của nhà thơ “mới nhất trong phong tràoThơ mới”./.
*Bài phân tích 2:
Khó có thể nói được cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam khi Xuân Diệu đến” Hoài Thanh đã mở đầu trang viết về Xuân Diệu trong cuốn “thi nhân Việt Nam” bằng một giọng điệu nghẹn ngùng và ngạc nhiên như thế. Xuân Diệu đã bước vào thi đàn Việt Nam như một cơn gió đầu mùa tươi trẻ, tràn đầy sức sống của một con người mới, một thế hệ mới. Ông bước đi trong dòng chảy thơ ca Việt những năm 32-45 với một cái tôi hoàn toàn nổi bật. Có chăng cái tôi ấy đã đã làm nên một hồn thơ rất mới mẻ, rất độc đáo, rất Xuân Diệu mà Vội Vàng là một trích dẫn tiêu biểu nhất?
Ông tên thật là Ngô Xuân Diệu, còn có bút danh là Trảo Nha, quê ở làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh nhưng sinh tại Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Phong cách sống và phong cách sáng tác của Xuân Diệu rất đáng để người đời học
hỏi. Ông luôn cần cù kiên nhẫn trong học tập, rèn luyện và lao động sáng tạo nghệ thuật. Trong sự nghiệp sáng tác thơ của mình, Xuân Diệu được biết đến như là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, là nhà thơ mới nhất của phong trào Thơ mới giai đoạn 1930-1945 với tư tưởng tiến bộ chi phối toàn bộ sự nghiệp văn học của mình- niềm khát khao giao cảm với đời.
Vội vàng là được giới văn sĩ đánh giá là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám, một hồn thơ bồng bột, khát khao giao cảm đến mãnh liệt, đến cuồng si.
Bài thơ bộc lộ nét đẹp của một quan niệm nhân sinh mới : sống tự giác và tích cực, sống với niềm khao khát phát huy hết giá trị bản ngã, tận hiến cho cuộc đời và cũng là một cách tận hưởng cuộc đời.
Sống vội vàng chỉ là một cách nói. Trong cốt lõi, đây là một quan niệm sống mới mang ý nghĩa tích cực nhằm phát huy cao độ giá trị của cái Tôi cá nhân trong thời hiện đại. Quan niệm sống nói trên được diễn giải qua một hệ thống cảm xúc và suy nghĩ mang màu sắc “ biện luận” rất riêng của tác giả. Với Xuân Diệu, cuộc đời như một thiên đường trên mặt đất. Mở đầu bài thơ là một khổ ngũ ngôn thể hiện một ước muốn kì lạ của thi sĩ:
Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất; Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi.
Thức nhận được sự trôi chảy vô biên của thời gian, nhà thơ như cảm thấy sợ hãi và khao khát níu giữ được nó để tận hưởng vẻ đẹp đích thực của cuộc sống. Thi sĩ muốn đoạt quyền tạo hoá, muốn đi ngược lại sự vận động của thiên nhiên, muốn tự mình nắm giữ điều chỉnh thời gian, bởi một người như Xuân Diệu sống để yêu và yêu để sống thì thời gian mà tự nhiên định sẵn từ ngàn xưa đến nay không thể nào đủ. Bằng việc sử dụng những động từ mạnh “tắt”, “buộc”, Xuân Diệu như muốn lưu giữ lại cái khoảnh khắc của tuổi xuân, muốn thời gian ngưng đọng lại, muốn và muốn như vậy mới có đủ thời gian để thỏa mãn lòng khao khát trong tâm hồn nhà thơ. Lần đầu tiên trong thơ ca hiện đại lại có một quan niệm về thời gian một cách ráo riết như Xuân Diệu.
Thiên đường cuộc sống của Xuân Diệu nơi trần gian thật mới mẻ!Trong quan niệm của người xưa, đời là chốn bụi trần, cuộc đời là bể khổ. Đấy là lý do vì sao lánh đời nhiều khi đã trở thành một cách thế sống mà cả tôn giáo cũng như văn chương đều chủ trương vẫy gọi con người trên hành trình đi tìm sự an lạc tâm hồn. Cũng chẳng phải ngẫu nhiên, đạo Phật tô đậm vẻ đẹp của cõi Tây Phương cực lạc; văn học cổ Trung Quốc cũng như văn học trung đại Việt Nam đều đề cao tâm lý hoài cổ, phục cổ, khuyến khích xu hướng tìm về với những giá trị trong quá khứ vàng son một đi không trở lại như đi tìm một thiên đường đã mất.
Xuân Diệu thuộc thế hệ những người trẻ tuổi ham sống và sống sôi nổi, họ không coi lánh đời là một xu thế mang ý nghĩa tích cực mà ngược lại, họ không ngần ngại lao vào đời. Và thật ngạc nhiên, nhờ tuổi trẻ, họ phát hiện ra cuộc đời thực chất không phải là một cõi mông lung, mờ mờ nhân ảnh, cũng chẳng phải là cái bể khổ đầy đoạ con người bằng sinh, lão, bệnh, tử … những định mệnh đã hàng ngàn năm ám ảnh con người mà trái lại, là cả một thế giới tinh khôi, quyến rũ. Tất cả đều hiện hữu, tất cả đều gần gũi, đầy ắp, ngay trong đời thực và trong tầm tay với:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì
                        Này đây lá của cành tơ phơ phất               
Của yến anh này đây khúc tình si Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.
Bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp và tràn đầy sức sống được tác giả cảm nhận bằng mọi giác quan, bằng cả tâm hồn của một thi sĩ. Trong cái nhìn mới mẻ, say sưa thi nhân vồn vã liệt kê bao vẻ đẹp của cuộc đời bằng hàng loạt đại từ chỉ trỏ này đây làm hiện lên cả một thế giới thật sống động. Hơn thế, cõi sống đầy quyến rũ ấy như đang vẫy gọi, chào mời bằng vẻ ngọt ngào, trẻ trung: đây là tuần tháng mật để dành cho ong bướm, đây là hoa của đồng nội (đang) “xanh rì, đây là lá của cành tơ phơ phất và khúc tình si kia là của những lứa đôi. Có lẽ trước Xuân Diệu trong thơ Việt Nam chưa có cảm giác “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Nó là cảm giác của ái ân tình tự. Cảm giác ấy đã làm cho người ta thấy tháng giêng mơn mởn non tơ đầy một sức sống thanh tân kia mà sao quyến rũ – tháng giêng mang trong nó sức quyến rũ không thể cưỡng được của một người tình rạo rực đắm say. Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận theo một cách riêng. Nó bày ra như một thiên đường trên mặt đất, như một bữa tiệc lớn của trần gian. Được cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham muốn, nên sự sống cũng hiện ra như một thế giới đầy xuân tình. Cái thiên đường sắc hương đó hiện ra trong Vội vàng vừa như một mảnh vườn tình ái, vạn vật đương lúc lên hương, vừa như một mâm tiệc với một thực đơn quyến rũ, lại vừa như một người tình đầy đắm say. Xuân Diệu hưởng thụ thiên nhiên như hưởng thụ ái tình. Yêu thiên nhiên mà thực chất là tình tự với thiên nhiên.
Tuy nhiên, trong ý thức mới của con người thời đại về thời gian, khi khám phá ra cái đẹp đích thực kia của đời cũng là lúc người ta hiểu rằng điều tuyệt diệu này có số phận thật ngắn ngủi, mong manh và sẽ nhanh chóng tàn phai vì theo vòng quay của thời gian có cái gì trên đời là vĩnh viễn?
Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật Không cho dài thời trẻ của nhân gian Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
Niềm ám ảnh về sự chảy trôi vô tình của thời gian khiến cái nhìn của thi nhân về thế giới bỗng đổi khác, tất cả đều nhuốm màu của âu lo, bàng hoàng, thảng thốt. Đấy là lý do vì sao mạch cảm xúc trong đoạn thơ bỗng liên tục thay đổi : từ việc xuất hiện các kiểu câu định nghĩa, tăng cấp : “nghĩa là (3lần/3dòng thơ), để định nghĩa về mùa xuân và tuổi trẻ, mà thực chất là để cảm nhận về hiện hữu và phôi pha, đến ý tưởng ràng buộc số phận cá nhân mình với số phận của mùa xuân, tuổi xuân nhằm thổ lộ niềm xót tiếc cái phần đẹp nhất của đời người, cuối cùng cất lên tiếng than đầy khổ não :
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất!
Con người thời trung đại hình như yên trí với quan niệm thời gian tuần hoàn với cái chu kỳ bốn mùa, cũng như cái chu kì ba vạn sáu ngàn ngày của kiếp người. Con người hiện đại sống với quan niệm thời gian tuyến tính, thời gian như một dòng chảy mà mỗi một khoảnh khắc qua là mất đi vĩnh viễn. Cho nên Xuân Diệu đã nồng nhiệt phủ định “còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi”.
Thi sĩ lại cảm nhận về không gian và thời gian đầy sự lạ hóa:
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt
Là người đã tiếp thu ở mức nhuần nhuyễn phép “tương giao” của lối thơ tượng trưng, Xuân Diệu đã phát huy triệt để sự tương giao về cảm giác để cảm nhận và mô tả thế giới. Thời gian được cảm nhận bằng khứu giác: “Mùi tháng năm” – thời gian của Xuân Diệu được làm bằng mùi hương, bằng mùi vị. Niềm xót tiếc cứ thế tuôn chảy miên man trong hàng loạt câu thơ và khắc nghiệt với bất công đã trở thành một quan hệ định mệnh giữa tự nhiên với con người. Nỗi cay đắng trước sự thật đó được triển khai trong những hình ảnh và ý niệm sắp xếp theo tương quan đối lập giữa : lòng người rộng” mà lượng trời chật; Xuân của thiên nhiên thì tuần hoàn” mà tuổi trẻ của con người thì chẳng hai lần thắm lại. Cõi vô thuỷ vô chung là vũ trụ vẫn còn mãi vậy mà con người, sinh thể sống đầy xúc cảm và khao khát lại hoá thành hư vô. Điều “ bất công” này thôi thúc cái tôi cá nhân đi tìm sức mạnh hoá giải.
Từ nỗi ám ảnh về số phận mong manh chóng tàn lụi của tuổi xuân, tác giả đề ra một giải pháp táo bạo. Con người không thể chặn đứng được bước đi của thời gian, con người chỉ có thể phải chạy đua với nó bằng một nhịp sống mới mà nhà thơ gọi là vội vàng.
Mau đi thôi! Màu chưa ngã chiều hôm Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê hương sắc của thời tươi
-hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi
Ta có thể nghe thấy giọng nói, nghe thấy cả nhịp đập của con tim Xuân Diệu trong đoạn thơ ấy. Nó hiện ra trong những làn sóng ngôn từ đan chéo nhau, giao thoa và song song vỗ vào tâm hồn người đọc. Cái điệp ngữ “ta muốn” được lặp đi lặp lại với mật độ thật dày và cũng thật đích đáng. Nhất là mỗi lần điệp lại đi liền với một động thái yêu đương mỗi lúc một mạnh mẽ, mãnh liệt, nồng nàn: ôm – riết – say – thâu – cắn. Những chữ “và” hiện diện cần cho sự thể hiện nguyên trạng cái giọng nói, cái khẩu khí của nhà thơ. Nó thể hiện đậm nét sắc thái riêng của cái tôi Xuân Diệu. nghĩa là thể hiện một cách trực tiếp, tươi sống cái cảm xúc tham lam đang trào lên mãnh liệt trong lòng ngực yêu đời của thi sĩ !
Không phải ngẫu nhiên mà Xuân Diệu được Hoài Thanh nhận xét là “nhà thơ mới nhất của phong trào thơ Mới”. Ngoài những sự mới lạ trong nội dung đề tài, Xuân Diệu còn có những bước đi táo baojtrong việc cách tân nghệ thuật. Với “Vội Vàng”, bài thơ có sự kết hợp giữa hai yếu tố trữ tình , chính luận. Yếu tố trữ tình được bộc lộ ở những rung động mãnh liệt bên cạnh những ám ảnh kinh hoàng khi phát hiện vè số phận mong manh của cái đẹp, của tình yêu và tuổi trẻ trước sự hủy hoại của thời gian. Mạch chính luận là hệ thống lập luận, lí giải về lẽ sống vội vàng , thông ddiejp mà Xuân Diệu muốn gửi đến cho độc giả
                        được trình bày theo lối quy nạp từ nghịch lí mâu thuẫn đến giải đáp. Bên cạnh đó, Xuân             
Diệu còn thành công trong việc tạo ra cú pháp mới của câu thơ, cách diễn đạt mới, hình ảnh và ngôn từ mới.
Có thể nói Xuân Diệu qua bài thơ này không chỉ “sống” hay “ham sống” mà là “say sống”. Sống mãnh liệt sống hối hả, sống gấp để tận hưởng vẻ đẹp của trần gian. Đó là một nhân sinh quan lành mạnh. tuy chưa phải là lối sống cao đẹp nhất, nhưng đó là một lối sống tích cực, sống trong ý thức phát huy hết giá trị của tuổi trẻ và cũng là của cái tôi. Bài thơ là nhịp đập gấp gáp trước thanh sắc trần gian một ngày xuân của một trái tim chưa bao giờ chán sống!
Nhà thơ Thế Lữ trong lời tựa cho tập “Thơ Thơ” của Xuan Diệu đã có nhận xét khá tinh tế: “Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian”. Đã mấy mươi năm Xuân Diệu giã từ chúng ta vào cõi hư vô, nhưng tấm lòng trần gian của ông thì vẫn còn lưu mãi với các thế hệ. Hẳn những ai yêu cuộc sống, yêu thơ Xuân Diệu chắc không khỏi những rung động trước những cảm xúc mãnh liệt tâm tình của tác giả qua bài thơ “Vội vàng” gắn với những niềm khát khao giao cảm với trời đất, với con người trong mùa xuân diệu kì!
Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi...
 

Tổng số điểm của bài viết là: 25 trong 5 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 5 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

DANH MỤC TÀI LIỆU
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây