Liên hệ zalo
Phần mềm bán hàng toàn cầu
Bán tài liệu, giáo án tất cả các môn toán, lý,hoá,sinh,văn,sử,địa,tiếng anh, công dân,

VĂN XUÔI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1975

Thứ ba - 20/09/2022 01:25
VĂN XUÔI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1975, Thành tựu văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975, Các tác phẩm văn học từ 1945 đến 1975 lớp 12, Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975, Văn học Việt Nam giai đoạn 1954 đến 1975, giải thích, chứng minh, đánh giá tính đại chúng của văn học việt nam giai đoạn 1945-1975., thể loại nào đạt được thành tựu tiêu biểu nhất trong văn học việt nam 1945 - 1975?, So sánh văn học Việt Nam trước và sau 1975, Những tác phẩm văn học sau năm 1975 lớp 9
VĂN XUÔI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1975
VĂN XUÔI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1975
VĂN XUÔI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1975, Thành tựu văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975, Các tác phẩm văn học từ 1945 đến 1975 lớp 12, Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975, Văn học Việt Nam giai đoạn 1954 đến 1975, giải thích, chứng minh, đánh giá tính đại chúng của văn học việt nam giai đoạn 1945-1975., thể loại nào đạt được thành tựu tiêu biểu nhất trong văn học việt nam 1945 - 1975?, So sánh văn học Việt Nam trước và sau 1975, Những tác phẩm văn học sau năm 1975 lớp 9 

CHUYÊN ĐỀ 4: VĂN XUÔI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1975

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

                                                                 Hồ Chí Minh
A.Giới thiệu
- Bản Tuyên ngôn Độc lập được viết vào những ngày cuối tháng 8/ 1945. Sau khi Cách mạng tháng Tám thắng lợi ở Hà Nội (19/8/1945), Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đọc Tuyên ngôn Độc lập trước hàng chục vạn đồng bào, khai sinh ra nước Việt nam mới.
- Hồ Chí Minh viết và đọc bản  Tuyên ngôn Độc lập khi đế quốc thực dân đang chuẩn bị chiếm lại nước ta đồng thời với danh nghĩa quân Đồng  minh vào giải giáp vũ khí quân đội Nhật, quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc tiến vào phía bắc, quân đội Anh tiến vào phía nam. Thực dân Pháp theo chân Đồng minh, tuyên bố: Đông Dương là đất “bảo hộ” của Pháp, bị Nhật chiếm, nay Nhật đã đầu hàng, vậy Đông Dương phải thuộc quyền của Pháp.
B.
1. Nêu nguyên lí chung về quyền tự do, bình đẳng , quyền mưu cầu hạnh phúc của con người và của các dân tộc.
2. Tố cáo tội ác của thực dân Pháp:
- Thực dân Pháp đã phản bội và chà đạp lên chính nguyên lí mà tổ tiên họ xây dựng.
- Vạch trần bản chất xảo quyệt, tàn bạo, man rợ; những âm mưu thâm độc,
chính sách tàn bạo của thực dân Pháp bằng những lí lẽ và sự thật lịch sử không thể chối cãi. Đó là những tội ác về chính trị, kinh tế, văn hóa...Chúng còn hèn nhát bán nước ta cho Nhật, đàn áp Việt minh và những người yêu nước.
- Khẳng định thực tế lịch sử: nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền, lập nên
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
3. Tuyên bố độc lập: tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận quyền độc lập, tự do của Việt Nam; tuyên bố quyết tâm của toàn dân tộc bảo vệ quyền độc lập, tự do đó.
 * Ý nghĩa văn bản:
- TNĐL là một văn kiện lịch sử vô giá tuyên bố trước quốc dân đồng bào và
thế giới quyền tự do, độc lập của dân tộc Biệt Nam và khẳng định quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do ấy.
- Kết tinh lí tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng tự do,
độc lập của Hồ Chí Minh và nhân dân ta.
- Mở ra một kỉ nguyên mới của dân tộc: kỉ nguyên độc lập, tự do.
- Là áng văn chính luận mẫu mực
Giá trị lịch sử và giá trị văn học.
C. Tổng kết
- Nội dung: sgk
- Nghệ thuật:
+ Lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực, giàu sức thuyết phục.
+ Ngôn ngữ chính xác và gợi cảm.
+ Giọng văn uyển chuyển,linh hoạt; lời lẽ đanh thép.
                                                                                 

……………………………..
 

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ

Nguyễn Tuân
A. Giới thiệu
I. Tác giả:
- Nguyễn Tuân (1910-1987) quê ở Hà Nội, sinh ra trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn.
- CM tháng Tám thành công, ông nhiệt tình tham gia CM và KC, là cây bút tiêu biểu của văn học cách mạng, say sưa viết về cuộc sống mới, con người mới trong kháng chiến cũng như trong xây dựng.
- 1996, được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT.
- Là cây bút văn xuôi tài hoa độc đáo của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông đặc biệt thành công ở thể loại tuỳ bút.
- TP tiêu biểu: Một chuyến đi, Vang bóng một thời…
II. Tác phẩm
- Hoàn cảnh sáng tác: TP là kết quả của nhiều dịp đến với Tây Bắc của nhà văn, đặc biệt chuyến đi thực tế năm 1958.
- Đây là một trong số 15 tùy bút của NT in trong tập Sông Đà xuất bản năm 1960.
- Thể loại : tùy bút
B. Đọc-hiểu
I. Con sông Đà d­ưới ngòi bút Nguyễn Tuân trở thành một sinh thể vừa hung bạo vừa trữ tình.
1. Sông Đà - con sông hung bạo, nham hiểm, dữ dội:
- Hướng chảy của dòng sông: độc đáo, bất thường các dòng sông chảy về đông, chỉ có Sông Đà chảy về Bắc.
- Cảnh bờ sông:
+ Đá bờ sông dựng vách thành
+ Đúng ngọ mới có mặt trời
+ Chẹt lòng sông như cái yết hầu
+ Có quãng con nai …  bờ kia,
" Tất cả gợi sự hùng vĩ của núi non Sông Đà.
- Cảnh thác và âm thanh nước Sông Đà:
+ Nước xô đá …nợ xuýt
+ Thở và kêu… cái bị sặc
+ Nghe như là oán trách… mà chế nhạo
+ Rống lên như tiếng …cháy bùng bùng: gợi không khí của một trận cuồng lửa, hủy diệt, dùng lửa để tả nước – hai yếu tố vốn tương khắc, giờ lại hòa hợp.
" Sự hoành tráng, mãnh liệt, hung bạo đến điên cuồng của con sông dữ.
- Hút nước trên mặt sông:
+ Giống như cái giếng …móng cầu
+ Từ đáy hút nước …cao đến vài sải
+ Thành giếng xây … pha lê xanh
+ Cốc pha lê nước khổng lồ
- Thạch trận Sông Đà:
+ Đá: Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, nhăn nhúm méo mó. Đứng, ngồi, nằm, nghiêng với những nhiệm vụ riêng được bày sẵn thạch trận thành 3 tuyến.
+ Bày 3 trùng vi nhằm tước đoạt và hủy diệt đến cùng sự sống của con người.
* Tóm lại: Con sông mang vẻ đẹp hùng vĩ trong sự hung bạo, dữ dội. Nó trở thành kẻ thù số một của người Tây Bắc.
2. Sông Đà còn mang vẻ đẹp trữ tình đầy chất thơ:
- Hình dáng dòng sông đầy thơ mộng: sông Đà tuôn dài tuôn…đốt nương xuân. Mềm mại, duyên dáng, kiều diễm
- Màu sắc: biến đổi theo mùa rất sinh động: Xuân: xanh ngọc bích, Thu: lừ lừ chín đỏ
- Không gian:
+ Lặng tờ / tịnh không một bóng người
+ Bờ sông hoang dại như… cổ tích tuổi xưa.
- Cảnh vật: ngô non/ cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp/ đẫm sương đêm/ con hươu thơ ngộ/ đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi.
Tóm lại, con sông mang vẻ đẹp thơ mộng, kì thú, tự nhiên như chẳng vướng bụi trần, khơi nhiều cảm xúc cho con người giống như một cố nhân.
2. Hình tư­ợng ông lái đò:
Ở các đoạn trước (trước đoạn trích trong SGK), người đọc đã được biết về ngoại hình người lái đò :
- Ông lái đò có ngoại hình và tố chất khá đặc biệt: dẫu đã 70 tuổi nhưng cái đầu bạc… cái đầu quắc thước ấy đặt trên một thân hình cao to và gọn quánh như chất sừng chất mun, tay ông lêu nghêu như một cái sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại như đang quắp lấy một cuống lái tưởng tượng…
- Sự lão luyện tinh thông trong nghề nghiệp: am hiểu con sông, có thể “nhớ như đóng đanh vào lòng đất tất cả những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở” dòng sông mà ông thuộc đến cả những dấu chấm than, chấm câu và cả những đoạn xuống dòng của thiên anh hùng ca.
- Vẻ đẹp nổii bật của người lái đò là vẻ đẹp của Trí – Dũng - Tài hoa: Hiện lên như một vị chỉ huy dày dạn kinh nghiệm, dũng cảm, tài hoa, nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá, linh hoạt thay đổi chiến thuật để lần lượt vượt qua từng trùng vi thạch trận:
+ Trùng vây 1
. Con sông:  thác, đá cực mạnh, cực ác. Vừa thách thức, doạ nạt, vừa đánh đòn cực hiểm. Bốn cửa tử, một cửa sinh; Sóng trận địa phóng thẳng; Mặt nước hò la vang dậy, ùa vào mà bẻ gẫy cán chèo; Sóng nước như quân liều mạng đội thuyền lên; Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình
. Ông lái đò: bình tĩnh, tỉnh táo ngay cả lúc đã bị thương: ông đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp lấy cuống lái, mặt méo bệnh đi nhưng vẫn vang rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo.
+ Trùng vây 2
. Con sông:  Tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn; Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá; Chúng vẫn không ngớt khiêu khích.
. Ông lái đò: cưỡi lên thác sông Đà, nắm chặt lấy cái bờm sóng đúng luồng, ghì cương lái phóng nhanh vào cửa sinh. Trước bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đòn cửa tử đứa thì ông tránh, đứa thì ông đè sấn lên chặt đôi ra để mở đường tiến.
+ Trùng vây 3
. Con sông: Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả; Luồng sống ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác. 
. Ông lái đò: phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa, vụt qua cổng đá cánh mở cánh khép. Con thuyền được ông lao đi như mũi tên tre, vụt qua cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng… cứ thế cho đến hết thác…
- Vẻ đẹp còn ông lái đò còn hiện lên khi chở đò, là nghệ sĩ, là dũng tướng tài ba. Kết thúc công việc, ông là một người bình thường, ngay khi vượt qua hết trùng vi thạch trận: đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn về cá anh vũ, cá đầm xanh… chả thấy ai bàn tán thêm một lời nào về cuộc chiến thắng thác nghềnh nguy hiểm vừa qua.
Kết luận:
- Ông lái đò vừa mang vẻ đẹp của một con người với trí-dũng-lực, vừa mang vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ.
- Thái độ cảm phục, ngợi ca lao động, ngợi ca sức mạnh, sự làm chủ của con người trước thiên nhiên.
C. Tổng kết
- Nội dung :
- Nghệ thuật :
+ Bài tuỳ bút đã sử dụng những kiến thức liên ngành đa dạng: lịch sử, địa lí, võ thuật, điện ảnh, hội hoạ, điêu khắc...
+ Nghệ thuật nhân hoá, so sánh của nhà văn rất táo bạo.
+Ngôn ngữ rất phong phú, tinh tế, chính xác, câu văn giàu tính tạo hình, giàu nhạc điệu.
 

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?

Hoàng Phủ Ngọc Tường
A. Giới thiệu
I. Tác giả:
- HPNT sinh 1937 tại Huế; là trí thức yêu nước gắn bó sâu sắc với thành phố Huế.
- Ông là một trong những nhà văn chuyên về bút kí. Tác phẩm của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với trình bày giàu chất thơ và sự vận dụng tổng hợp tri thức triết học, địa lí, lịch sử, văn hóa,…
- TP tiêu biểu: Ngôi sao trên đỉnh Phú Vân Lâu, Hoa trái quanh tôi,…
II. Tác phẩm
- Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ: Bài bút kí viết năm 1981, in trong tập sách cùng tên. Tập bút kí gồm 8 bài kí.
- Thể loại : bút kí
B. Đọc-hiểu
I. Vẻ đẹp của dòng Sông Hương
1. Vẻ đẹp được phát hiện từ cảnh sắc thiên nhiên.
a. Sông Hương, đoạn chảy đầu nguồn
- Khi qua dãy Trường Sơn hùng vĩ.
+ Sông Hương là bản tình ca của rừng già.:Rầm rộ và mãnh liệt…Dịu dàng và say đắm….
+ Sông Hương như một cô gái Di gan phóng khoáng man dại.
. Rừng già đã hun đúc cho nó một  bản tính gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng.
 . Cũng chính rừng già nơi đây đã chế ngự sức mạnh bản năng của người con gái Sông Hương.
" Vẻ đẹp của một sức sống trẻ trung, mãnh liệt và hoang dại.
- Khi ra khỏi rừng già.
+ Đóng kín phần tâm hồn sâu thẳm của mình ở cửa rừng…
+ Mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở.
"Vẻ đẹp đầy bí ẩn, sâu thẳm của dòng sông.
[ Vẻ đẹp mạnh mẽ, trẻ trung đầy cá tính của dòng sông, gợi lên ở người đọc những liên tưởng kì thú, đầy sức hấp dẫn.
b. Sông Hương, đoạn chảy ngoại vi thành phố
- Chuyển dòng một cách liên tục, uốn mình theo những đường cong thật mềm.
+ Từ ngã ba Tuần - theo hướng nam bắc qua điện Hòn Chén.
+ Chuyển hướng sang tây bắc vòng qua Nguyệt Biều, Lương Quán.
+ Đột ngột rẽ mộthình cung thật tròn về phía đông bắc lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về  Huế.
"Như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi gặp thành phố tương lai của nó.
- Vẻ đẹp của dòng sông trở nên biến ảo vô cùng.
+ Qua Vọng Cảnh, Tam Thai: Dòng sông mềm như tấm lụa, tạo những mảng phản quang nhiều màu sắc…
+ Đến vùng rừng thông u tịch, lăng tẩm của vua chúa triều Nguyễn: Dòng sông mang vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc như triết lí, như cổ thi.
+ Tới ngoại ô Kim Long: vẻ đẹp tươi vui….
"SH như một cô gái dịu dàng mơ mộng đang khao khát đi tìm thành phố tình yêu theo tiếng gọi vang vọng từ trái tim. Vẻ đẹp dòng sông huyền ảo, lung linh sắc màu.
c. Cuộc gặp gỡ giữa Sông Hương – Huế :
- Khi nhìn thấy Cầu Tràng Tiền = vành trăng non in gần trên nền trời.
+ Uốn một cánh cung rất nhẹ, như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu.
+ Các nhánh sông toả đi khắp thành phố như muốn ôm trọn Huế vào lòng.
+ SH giảm hắn lưu tốc, xuôi đi thực chậm… yên tĩnh, khát vọng được gắn bó, lưu lại mãi với mảnh đất nơi đây
+ SH và Huế hoà vào làm một, SH làm nên vẻ mộng mơ của Huế, Huế làm nên vẻ đẹp trầm tư sâu lắng của SH.
[ Cuộc gặp gỡ của Huế và SH được tác giả cảm nhận như cuộc hội ngộ của tình yêu.
d. Sông Hương, đoạn chảy trước khi rời Huế
-  Rời khỏi kinh thành, Sông Hương ôm lấy đảo Cồn Huế, lưu luyến ra đi…
- Đột ngột rẽ ngoặt lại để gặp thành phố- tình nhân lần cuối.
- Nói câu thề: còn non, còn nước, còn về, còn nhớ
[ Sự lưu luyến, bịn rịn của đôi tình nhân trong chia biệt. Gợi liên tưởng  đến mối tình Kim Trọng- Thuý Kiều.
2. Vẻ đẹp văn hoá của dòng sông
- Dòng sông âm nhạc:
+ Là người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya.
+ Là nơi sinh thành ra toàn bộ nền âm nhạc có điểm của Huế.
+ Là cảm hứng để Nguyễn Du viết lên khúc đàn của nàng Kiều.
- Dòng sông thi ca:
+ Là vẻ đẹp mơ màng “Dòng sông trắng lá cây xanh” trong thơ Tản Đà.
+ Vẻ đẹp hùng tráng “như kiếm dựng trời xanh” của Cao Bá Quát.
+ Là nỗi quan hoài vạn cổ trong thơ bà Huyện Thanh Quan.
+ Là sức mạnh phục sinh tâm hồn trong thơ Tố Hữu
" Sông Hương luôn đem đến nguồn cảm hứng mới mẻ, bất tận cho các thi nhân.
- Dòng sông gắn với những phong tục, với vẻ đẹp tâm hồn của người dân xứ Huế.
+ Màn sương khói trên Sông Hương bằng màu áo điền lục, một sắc áo cưới của các cô dâu trẻ trong tiết sương giáng.
+ Vẻ trầm mặc sâu lắng của sông Hương cũng như một nét riêng trong vẻ đẹp tâm hồn của người xứ Huế: “rất dịu dàng và rất trầm tư…”
3. Dòng sông Hương với lịch sử hào hùng của mảnh đất cố đô.       
- Là một dòng sông anh hùng:
+ Từ xa xưa: là một dòng biên thuỳ xa xôi của đất nước của các vua Hùng.
+ Thời trung đại:
 . Dòng Linh Giang đã chiến đấu oanh liệt để bảo vệ biên giới phía nam Tổ quốc Đại Việt.
 . Vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ.
+ Thời chống Pháp:
. Sống hết lịch sử bi tráng với  máu của các cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương.
. Đi vào thời đại CM tháng Tám với những chiến công rung chuyển.
+ Thời chống Mĩ: Góp mình vào chiến dịch Mùa xuân 1968 Mậu Thân.
- SH cùng với thành phố Huế chịu nhiều đau thương mất mát:
+ Sông Hương là dòng sông có bề dày lịch sử như một người con gái anh hùng, khi Tổ quốc gọi nó tự biết hiến đời mình làm một chiến công.
+Sông Hương là dòng sông của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc.
→Sử thi mà  trữ tình, bản hùng ca mà cũng là bản tình ca dịu dàng tươi mát. Đó là nét độc đáo của xứ Huế, của Sông Hương được tác giả khám phá và khắc hoạ từ góc độ lịch sử.
* Nhan đề: Ai đã đặt tên cho dòng sông?
Bài kí mở đầu và kết luận bằng một câu hỏi “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
- Mang nghĩa hỏi: Chính nội dung bài kí là câu trả lời, một câu trả lời dài như một bài kí ca ngợi vẻ đẹp, chất thơ của dòng sông có cái tên cũng rất đẹp và phù hợp với nó: Sông Hương.
- Mang tính chất biểu cảm:
+ Là cái cớ để nhà văn đi vào miêu tả, ca ngợi vẻ đẹp của dòng sông Hương gắn với mảnh đất cố đô cổ kính tươi đẹp.
+ Thể hiện tình cảm ngỡ ngàng ngưỡng mộ, thái độ trân trọng ngợi ca của tác giả với dòng sông Hương, thành phố Huế thân yêu. Vì quá yêu mà bật thành câu hỏi “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
II. Hình tượng cái “tôi” của tác giả
- Tình yêu thiết tha đến say đắm của tác giả đối với cảnh và người nơi xứ Huế.
- Phong cách viết kí của HPNT: Phóng túng, tài hoa, giàu thông tin văn hoá, địa lí, lịch sử và giàu chất trữ tình lãng mạn.
C. Tổng kết
- Nội dung:
+ Vẻ đẹp phong phú của sông Hương dưới nhiều góc độ và mối quan hệ của sông Hương với vẻ đẹp và  văn hóa xứ Huế.
+ Cái tôi uyên bác, tài hoa và mê đắm của tác giả.
- Nghệ thuật:
+ Ngôn ngữ: phong phú, giàu hình ảnh, gợi cảm.
+ Hình ảnh: so sánh độc đáo bằng liên tưởng lãng mạn, đậm chất trữ tình.
+ Thủ pháp: nhân hóa " Sông Hương được cảm nhận như một sinh thể sống động (là người con gái dịu dáng đằm thắm với tất cả các cung bậc cảm xúc) " thuận lợi để đan cài những suy tưởng về văn hóa, lịch sử, về truyền thống con người và đất nước Việt Nam.

VỢ CHỒNG A PHỦ

                                                                                          Tô Hoài
A. Giới thiệu                                                                            
I. Tác giả
Sinh 1920, tên thật là Nguyễn Sen. Quê Hà Đông (Hà Nội nay).
- Là nhà văn tiêu biểu của xu hướng hiện thực trước Cách mạng tháng Tám.
- Tô Hoài là nhà văn có sức sáng tạo dồi dào. Qua hơn 60 mươi năm cầm bút, ông đã cho ra đời trên 160 tác phẩm thuộc nhiều đề tài và thể loại khác nhau (Truyện ngắn, Tiểu thuyết, kí, tự truyện, tiểu luận…)
  - TH là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của nền văn học hiện đại VN. Sáng tác của ông thể hiện vốn hiểu biết phong phú về nhiều lĩnh vực đời sống, đặc biệt là phong tục và sinh hoạt đời thường. Nghệ thuật văn xuôi của TH có nhiều đặc sắc: lối kể chuyện tự nhiên, sinh động, cách miêu tả giàu chất tạo hình, ngôn ngữ phong phú và đậm tính khẩu ngữ.
- Tp chính: Dế mèn phiêu lưu kí, O chuột, Truyện Tây Bắc, Miền Tây, Cát bụi chân ai, Chiều chiều
- Được tặng giải thưởng HCM về VHNT (1996).
II. Tác phẩm
1. Xuất xứ:
- Vợ chồng A Phủ (1952) in trong tập Truyện Tây Bắc.
- Được tặng giải Nhất (Đồng hạng với Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc) – Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955.
2. Tóm tắt tác phẩm
Mị là một cô gái Mèo xinh đẹp, yêu đời, thổi sáo hay, có nhiều người mê. Mị bị A Sử, con trai thống lí Pá Tra bắt về làm dâu để trừ món nợ cha mẹ Mị vay khi họ lấy nhau. Mang tiếng là con dâu nhà giàu nhưng thân phận Mị chẳng khác gì nô lệ, Mị phải làm việc quần quật hơn cả thân trâu ngựa, bị áp chế cả tinh thần lẫn thể xác. Ngày tết, A Sử không cho Mị đi chơi. Tiếng sáo gọi bạn tình tha thiết gợi lên trong Mị khát khao tự do và hạnh phúc. Mị muốn đi chơi, Mị sửa soạn để đi chơi nhưng lại bị A Sử trói đứng vào cột.A Sử sau khi trói vợ đã sang làng khác chơi, gây sự và đã bị A Phủ trừng trị một trận đích đáng. A Phủ là một chàng trai mồ côi, khỏe mạnh, lao động giỏi, được nhiều cô gái mơ ước nhưng không thể lấy được vợ vì thân phận nghèo hèn . Vì đánh con quan, A Phủ bị bắt, bị xử phạt. A Phủ đã phải vay tiền của thống lí để nộp phạt cho hắn và trở thành kẻ ở trừ nợ cho nhà thống lí.Một hôm đi giữ bò, ngựa cho thống lí, để hổ bắt mất bò, anh bị thống lí trói đứng vào cột.Chứng kiến cảnh A Phủ bị trói chờ chết thoạt đầu Mị vẫn thản nhiên nhưng khi nhìn thấy nước mắt của anh, Mị động lòng thương xót quyết định cắt dây trói giải thoát cho A Phủ. A Phủ chạy, Mị cũng vụt chạy theo. Cả hai thoát khỏi Hồng Ngài.
          Hai người thành vợ chồng và trốn sang Phiềng sa. Quân pháp tràn tới, dân Phiềng Sa lại hoang mang lo sợ. A Châu, cán bộ Đảng tìm đến.A Phủ được giác ngộ, kết nghĩa anh em với A Châu và trở thành tiểu đội trưởng du kích cùng với Mị và đồng đội bảo vệ quê hương.
B. Đọc - hiểu
1. Nhân vật Mị
a. Lai lịch:
-Trẻ  trung, xinh đẹp, tài hoa, yêu đời.
   - Siêng năng, hiếu thảo, khao khát tự do.
   - Được nhiều trai bản theo đuổi, có người yêu .
=> Lẽ ra sẽ được hưởng một cuộc sống  êm đềm, hạnh phúc.
b. Số phận: -Bị bắt làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Vì món nợ truyền kiếp của cha mẹ, Mỵ trở thành con dâu gạt nợ, chịu kiếp sống  nô lệ. Cuộc đời  đầy cay đắng và tủi nhục.
+Bị bóc lột sức lao động, làm lụng như kiếp con trâu, con ngựa.
+Bị hành hạ, đánh đập, bị áp chế cả về tinh thần lẫn thể xác.
-Mị sống lầm lũi trong xó nhà, cô đơn, lặng lẽ ( lùi lũi như con rùa trong xó cửa, mặt cúi xuống, buồn rười rượi, không buồn nói năng, căn buồng Mị ở như ngục thất tinh thần giam hãm đời Mị) .
- Cái khổ, cái nhục đã  khiến Mị tê liệt mọi cảm giác, mất tinh thần phản kháng, cam phận.
c. Sức sống tiềm tàng: Bị áp chế đến tận cùng, tưởng chừng như tê liệt cả tinh thần, song sâu thẳm trong tâm hồn Mị vẫn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt, chờ có dịp thì trỗi dậy.
* Lần thứ nhất: Ý định ăn lá ngón tự tử
Không chấp nhận thực tại: trốn về nhà, đêm nào cũng khóc, định tự tử bằng lá ngón. Đau đớn, phản kháng nhưng thương cha (hiếu thảo) đành ném lá ngón trở lại nhà thống lí Pá Tra sống tiếp kiếp nô lệ tủi nhục. Sống lâu trong cái khổ, tâm hồn Mị dần trơ lì cảm xúc .
*Lần thứ hai: Trong đêm tình mùa xuân
- Tác nhân khiến tâm hồn Mị hồi sinh:
 + Không khí của đất trời vào xuân, tiếng sáo gọi bạn tình tha thiết -> tác động vào tâm hồn.
+Men rượu nồng -> tác động vào thể xác.
- Diễn biến tâm lý của Mị trong đêm tình mùa xuân:
+Lắng nghe tiếng sáo, bồi hồi , Mị nhẩm thầm theo tiếng sáo.
+Uống rượu, say lịm người, nhìn mọi người nhảy đồng, hát nhưng lòng thì đang sống về ngày trước, nhớ lại kỉ niệm êm đềm thời con gái hạnh phúc.
 +Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước, cảm nhận được tuổi trẻ của mình.
+Ý thức về cảnh ngộ hiện tại, không chấp nhận thực tại đó, muốn giải thoát bằng nắm lá ngón.
+Đầu Mị rập rờn tiếng sáo, Mị xắn mỡ bỏ vào đĩa đèn, thắp sáng căn buồng  như muốn xua đi bóng tối phủ trùm đời mình, muốn thắp sáng phần đời còn lại.
+Sửa soạn đi chơi: quấn tóc, với lấy cái váy hoa - hành động nhanh, dứt khoát ngay trước mặt A Sử
+Khi bị  A Sử trói đứng, vẫn thả hồn theo tiếng sáo, vùng bước đi - thể xác bị cầm tù nhưng tâm hồn lại tự do.
+Nhớ lại chuyện có người từng bị trói đứng như mình đã chết, Mị sợ và cựa quậy xem mình còn sống hay đã chết.  Sợ chết là biểu hiện của ham sống.
+ Sự hồi sinh của tâm hồn nhân vật được tác giả  miêu tả  sâu sắc, tinh tế và phù hợp.
*Lần thứ ba: Đêm cắt dây trói giải thoát cho A Phủ và chính mình
  Diễn biến tâm lí của Mị trước và sau khi cắt dây trói giải thoát cho A Phủ và cho chính:
+Thoạt đầu: thấy A Phủ bị trói chờ chết, Mị vẫn thản nhiên, bởi đời Mị đã chịu quá nhiều đau khổ.
+ Khi nhìn thấy dòng nước mắt lấp lánh bò trên hõm  má xám đen của A Phủ, Mị đã nhớ lại cảnh bị A Sử trói năm trước, động lòng trắc ẩn cảm thương cho người cùng số phận, nhận chân kẻ thù, ý thức về thân phận, cuộc sống của mình. Từ chỗ thương mình đến thương người, Mị cắt dây trói giải thoát cho A Phủ
+AP thoát rồi, Mị sợ chết, lòng ham sống trỗi dậy, Mị vùng chạy theo tự giải thoát cho chính mình. Cùng một lúc, Mị chiến thắng cả thần quyền lẫn cường quyền.
* Qua nhân vật Mị:
-Thấy được thân phận của người phụ nữ miền núi dưới ách thống trị phong kiến.
-Khẳng định sức sống tiềm tàng, khát vọng tình yêu, hạnh phúc, khát vọng tự do của người dân miền núi.
-Nhân vật Mị chính là số phận của dân tộc Mèo trong quá trình lột xác vươn lên.
- NT xây dựng nhân vật: miêu tả nội tâm.
2. Nhân vật A Phủ
- Cảnh ngộ: Bất hạnh: mồ côi, không còn người thân thích.
- Thân phận nghèo hèn bị áp bức, bóc lột. Nghèo khổ, không lấy được vợ.
- Tính cách: Mạnh mẽ, gan góc, là đứa con của núi rừng tự do nhưng vẫn không thoát khỏi số phận tôi đòi.
+ Không sợ phải đối mặt với bọn con quan, trị chúng đích đáng: Đánh A Sử  bằng một trận đòn hào hứng.
+ Cam phận nô lệ:
 . Bị trói, bị đánh đập trở  thành  nô lệ từ hôm phạt vạ.
 . Mất bò, tự chôn cột, lấy dây mây trói mình thế mạng.
Có hai con người đối lập nhau trong một con người A Phủ duy nhất và thống nhất (cường tráng, bất khuất ><Cam phận tôi đòi). Hai mặt đối lập này đan xen vào nhau, vừa thống nhất, vừa xung đột  là nguồn gốc làm nên sự vận động và phát triển nội tại của hình tượng A Phủ.
 Nhân vật A Phủ vừa thống nhất vừa bổ sung cho hình ảnh của Mị để thấy  sự vươn lên của người dân miền núi.  
 * Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo:
- Giá trị hiện thực:
 +Phản ánh hiện thực cuộc sống tủi nhục đắng cay của người dân lao động ở vùng caoTây Bắc.
 +Lên án những thế lực phong kiến, thực dân áp bức tàn bạo thông qua hình ảnh của cha con thống lý Pá Tra: cho vay nặng lãi, thực hiện chế độ nô lệ, lợi dụng thần quyền.
- Giá trị nhân đạo:
  + Xót thương, cảm thông với số phận đau khổ của người nông dân nghèo miền núi dưới ách thống trị của bọn chúa đất.
  +Phát hiện và trân trọng phẩm chất tốt đẹp của con người, nhất là tình yêu tự do và sức sống tiềm tàng mãnh liệt của người dân miền nui Tây Bắc.
+Mở ra cho nhân vật một lối thoát, đưa họ đến với cách mạng, với một cuộc sống tươi sáng hơn.
 +Lên án những thế lực tàn bạo đã chà đạp lên con người.
C. Tổng kết
- Nội dung:
- Nghệ thuật:
+Khắc hoạ tính cách nhân vật sinh động, có cá tính. Miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc, tinh tế, phù hợp.
+Tả cảnh thiên nhiên, sinh hoạt, phong tục tập quán  vùng cao chân thực, sống động, đặc sắc.
+Ngôn ngữ giàu chất thơ, tạo hình, giọng văn nhẹ nhàng, tinh tế, đượm phong vị dân tộc.

VỢ NHẶT

Kim Lân

A. Giới thiệu
I. Tác giả:
- Kim Lân (1920-2007)  tên khai sinh là NguyễnVăn Tài, quê Bắc Ninh.
- Là nhà văn chuyên viết truyện ngắn về người nông dân làng quê Việt Nam. Thế giới nghệ thuật của ông thường là khung cảnh nông thôn và người nông dân.
-Kim Lân “một  lòng một dạ đi về với đất, với người với thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống nông thôn”.
-Tác phẩm tiêu biểu: Nên vợ nên chồng(1955), Con chó xấu xí(1962)
- Nhận giải thưởng Nhà nước về VHNT (2001).
II. Tác phẩm: 
1. Hoàn cảnh sáng tác: Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân in trong tập truyện Con chó xấu xí (1962).
-Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết Xóm ngụ cư được viết ngay sau CMTT 1945 nhưng dang dở và bị mất bản thảo. Sau khi hoà bình lập lại (1954), Kim Lân dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này.
2. Tóm tắt tác phẩm
Tràng là một thanh niên xấu xí, ế vợ. Hằng ngày, Tràng kéo xe thóc Liên đoàn lên tỉnh  và có quen một cô gái. Cô ta đã theo Tràng về nhà làm vợ sau một bữa ăn bánh đúc.Tràng đưa người  vợ nhặt về nhà làm cho những người trong xóm bàn tán xôn xao, bà cụ Tứ ngạc nhiên, không hiểu. Khi bà đã hiểu ra, bà vùa xót thương vừa lo lắng, mừng vui và khuyên các con ăn ở hoà thuận với nhau.
Sáng hôm sau, Tràng nhìn nhà cửa, sân vườn được quét dọn sạch sẽ, ngăn nắp. Tràng cảm  thấy thương yêu, gắn bó với cái nhà, phải có bổn phận với gia đình và muốn dự phần tu sửa lại căn nhà.
    Bữa ăn ngày đói thật thảm hại. Tuy vậy, cả nhà ăn thật ngon lành, vui vẻ. Bà cụ Tứ nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau. Ngoài đình bỗng dội lên một hồi trống thúc thuế dồn dập, vội vã. Nghe vợ kể về Việt Minh, Tràng nghĩ đến những người  nghèo đói đi phá kho thóc và lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới.

B. Đọc-hiểu
I. Ý nghĩa nhan đề tác phẩm
- Nhan đề thâu tóm giá trị nội dung tư tưởng TP.
- Từ nhan đề, thấy được thân phận con người bị rẻ rúng như cái rơm, cái rác có thể nhặt ở bất kì đâu, bất kì lúc nào. Người ta hỏi vợ, cưới vợ còn ở đây Tràng lại nhặt vợ. Đây thực chất là sự khốn cùng của hoàn cảnh.
- Trong hoàn cảnh cái đói, cái chết đang bủa vây cuộc sống của mình mà con người vẫn hướng về sự sống, khát khao tổ ấm gia đình và yêu thương đùm bọc lẫn nhau.
II. Tình huống truyện
- Tình huống truyện diễn ra trong một khoảnh khắc đặc biệt: nạn đói khủng khiếp năm 1945 đang đe dọa cuộc sống từng con người trong mỗi gia đình, làng xóm (cái đói, cái chết tràn khắp mọi nơi tưởng chừng có thể tiêu diệt ý chí sống của con người: những đứa trẻ không buồn nhúc nhích, người sống như những bóng ma, xanh xám; người chết như ngả rạ, thây nằm còng queo bên lề đường; không gian sặc mùi xác chết, quạ kêu thê thiết, tiếng khóc hờ, khóc tỉ tê trong đêm…)
- Trên nền bức tranh thảm đạm đó, Tràng lại dẫn một người đàn bà lạ về nhà. Tình huống Tràng nhặt được vợ đã làm cho mọi người vô cùng ngạc nhiên:Trẻ con, người lớn, mẹ của Tràng và bản thân Tràng cũng không ngờ được, cứ ngỡ ngàng như không phải.
- Ai cũng ngạc nhiên vì:
 +Người như Tràng mà lấy được vợ (xấu trai, dở hơi, nghèo, dân ngụ cư).
+Thời buổi cái đói đang đe dọa mạng sống của con người, đến nuôi thân còn chẳng xg mà còn dám lấy vợ
-Nhưng, nếu không gặp tình cảnh này dễ gì Tràng có vợ.
=> Tình huống lạ, éo le, giàu kịch tính, rất độc đáo là đầu mối cho sự phát triển của truyện, tác động đến diễn biến tâm trạng và hành động của các nhân vật.  Qua tình huống độc đáo này, chủ đề của tác phẩm được bộc lộ.
III.  Hình tượng nhân vật
1. Nhân vật Tràng
-Tràng là người lao động nghèo, tốt bụng:
+ Giữa lúc cái đói đang đe dọa mạng sống của chính mình, anh sẵn lòng đãi người đàn bà xa lạ.
+ Lúc đầu Tràng chỉ đùa, khi người phụ nữ ấy theo thật thì “chợn” nhưng rồi vẫn chậc lưỡi “kệ”. Anh đưa chị về trước hết là vì cưu mang người lúc khốn khó (thị rách tả tơi, đói đến mất cả thể diện)
- Tràng khát khao hạnh phúc và có ý thức xây dựng hạnh phúc:
+ Tràng “nhặt” người phụ nữ trước hết là vì thương người nhưng sâu xa hơn, anh cũng khát khao hạnh phúc, khát khao một tổ ấm gia đình. Bởi thế:
-Trên đường dẫn người phụ nữ về nhà, Tràng thích ý lắm, cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình, cười nhiều với đủ các kiểu cười khác nhau.
-Giới thiệu vợ với mẹ một cách hãnh diện và đầy tình cảm: “Kìa, nhà tôi nó chào u”.
- Buổi sáng đầu tiên sau khi có vợ: xúc động, phấn chấn, cảm thấy yêu thương và gắn bó với gia đình hơn, muốn làm việc gì đó để tu bổ lại căn nhà, có ý thức về bổn phận, cảm thấy mình nên người hơn .
*Niềm vui và sự cảm nhận hạnh phúc đơn sơ, nhỏ bé của Tràng trong tình cảnh giữa sự sống và cái chết cách nhau bằng một ranh giới mong manh tô đậm  chất nhân văn sâu sắc: Cuộc sống dù có  bi thảm đến đâu cũng không thể dập tắt được niềm khát khao chính đáng của con người. Đó là niềm khát khao hạnh phúc, khát khao một tổ ấm gia đình, khát khao được sống như một con người, được nên người.
2. Bà cụ Tứ
-Là một người mẹ nghèo khổ, rất mực thương con, nhân hậu, lạc quan, có niềm tin vào cuộc sống.
* Diễn biến tâm lí của bà trong quá trình nhận dâu được miêu tả tinh tế, phù hợp.
- Thoạt đầu, bà ngạc nhiên, đứng sững lại, hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn, quay nhìn Tràng không hiểu.
- Băn khoăn ngồi xuống khi nghe người đàn bà chào.
- Khi hiểu ra, trong bà chồng chéo những cảm xúc:
+Xót thương cho số kiếp đứa con mình.
+Tủi thân vì chưa làm tròn bổn phận của một người mẹ.
+Lo âu bởi biết chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không.
+Cảm thông và xót thương cho người phụ nữ tội nghiệp.
+Mừng vì con trai lấy được vợ.
=>Bà chấp nhận nàng dâu với tất cả tấm lòng độ lượng, nhân hậu, thể hiện tình thương yêu chân thành, đằm thắm đối với con dâu. Vượt lên trên tình thương ấy là tình thương yêu giai cấp của những người nghèo khổ.
- Sau khi nhận dâu, bà tin tưởng vào cuộc sống, vào tương lai, an ủi, động viên con, cầu mong cho con thuận hòa, no đủ:
+Nói đến chuyện nuôi gà, chuyện sẽ có một đàn gà nay mai.Bà bày cho con cách làm ăn, tin vào cuộc sống.
+Nói đến triết lí "ai giàu ba họ ai khó ba đời" để động viên con  về một viễn cảnh thoát đói nghèo. Đó cũng là triết lí sống sâu sắc, lạc quan của người bình dân.
+Thu dọn, quét tước nhà cửa, sân vườn mong mang lại một sinh khí mới.
- Mừng con dâu mới bằng một nồi “chè khoán”:
+ Hình ảnh nồi cháo cám (chè khoán) mừng nàng dâu mới là bằng chứng của một tấm lòng giàu tình yêu thương trong một cảnh đời ngặt nghèo, nghiệt ngã. Đây là chi tiết não lòng, gây ấn tượng mạnh, xúc động lòng người.
 + Ý thức về bổn phận, tình thương và niềm tin vào cuộc sống đã tạo nên vẻ đẹp của nhân vật cụ Tứ.
3. Người phụ nữ không tên: (người vợ nhặt)
- Hiện thân của sự đói rách: Áo quần tả tơi như tổ đỉa, ngực lép, gầy sọp, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt …
- Tập hợp “không”: Không gốc gác quê hương, họ hàng, không nhà cửa, không có nổi cái tên, không duy trì nổi lòng tự trọng để phải theo không Tràng chỉ sau bốn bát bánh đúc.
- Chấp nhận theo không một anh chàng xấu xí, nghèo khổ, chưa hiểu rõ như thế nào về tính tình, gia cảnh. Bởi lẽ:
+ Trước hết, là tìm chốn nương thân qua mùa đói kém.
+ Sâu xa hơn, cũng như Tràng, chị khát khao một mái ấm gia đình, khát khao hạnh phúc:
. Theo Tràng trong tâm trạng ngượng ngùng.
.Sáng hôm sau: cuộc sống gia đình biến đổi thị thành "người đàn bà hiền hậu, đúng mực, không có vẻ gì chao chát chỏng lỏn".Cùng mẹ chồng quét tước, thu dọn nhà cửa, sân vườn mong mang lại một sinh khí mới.
.Khi nhận chén cháo cám của mẹ chồng mừng nàng dâu mới, mắt chị tối lại  nhưng vẫn điềm nhiên và chén cháo vào miệng . Chị chấp nhận sự đói rách trước mắt, chị đã cảm nhận được sự đền bù của đời dành cho mình: Không tránh được đói rách nhưng chị đã có được tình thân, tình thương, có được ý thức về bổn phận đối với người khác. Đấy là cái cao hơn cả mọi miếng cơm manh áo ở đời. Nỗi tủi nhục được thay thế bằng hạnh phúc gia đình đơn sơ, bé nhỏ.   
C. Tổng kết
- Nội dung:  Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo mới mẻ:
- Giá trị hiện thực: tố cáo tội ác diệt chủng của bọn thực dân, phát xít qua bức tranh xám xịt về thảm cảnh chết đói 1945.
- Giá trị nhân đạo:
 +Xót xa, cảm thông với nỗi thống khổ của con người trong tình cảnh bi đát.
 + Khám phá, trân trọng khát vọng hạnh phúc, khát vọng sống của con người. Niềm tin sâu sắc vào phẩm giá của họ.
    .Trong hoàn cảnh khắc nghiệt, cái đói, cái chết đe dọa, người dân lao động vẫn hướng về sự sống và khát khao tổ ấm gia đình, khát khao được sống như một con người, được nên người.
    .Trong cái đói, họ vẫn cưu mang, đùm bọc, chia sẻ miếng cơm manh áo cho nhau.
+Niềm tin vào sự đổi đời của những con người nghèo khổ, bất hạnh trong xã hội cũ.
+Lên án tội ác diệt chủng của bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật.
- Nghệ thuật:
+ Nghệ thuật tạo tình huống truyện đầy sáng tạo, độc đáo.
+ Cách kể chuyện tự nhiên, lôi cuốn, hấp dẫn.
+ Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc.
+ Ngôn ngữ nhuần nhị, tự nhiên.

RỪNG XÀ NU (TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN)

Nguyễn Trung Thành
A. Giới thiệu
I. Tác giả
- Nguyễn Trung Thành, bút danh khác là Nguyên Ngọc. Sinh năm 1932.Quê Quảng Nam.
- Là nhà văn trưởng thành trong  hai cuộc kháng chiến, gắn bó mật thiết với chiến trường Tây Nguyên. Những thành công lớn nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông cũng gắn với mảnh đất này.
- Đặc điểm sáng tác : mang đậm tính sử thi - phản ánh những nhân vật anh hùng tiêu biểu cho cộng đồng, những vấn đề lớn của cộng đồng . 
- Tác phẩm chính: Đất nước đứng lên, Rẻo cao, Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, Đất Quảng
II. Tác phẩm Rừng xà nu
1. Xuất xứ
- Rừng xà nu được viết năm 1965-  thời điểm đế quốc Mĩ bắt đầu đổ quân ào ạt vào miền Nam, cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước ở vào thời kì ác liệt.
- Tác phẩm đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ, sau được in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc.
2. Tóm tắt tác phẩm
Sơ đồ tóm tắt
 
Buổi chiều:                                              Tác giả kể                            
             RỪNG XÀ NU - TNÚ VỀ THĂM LÀNG SAU BA NĂM ĐI GIẢI PHÓNG QUÂN
 

ĐÊM   HỌP  LÀNG  TẠI NHÀ   CỤ   MẾT

CỤ MẾT KỂ LẠI CUỘC ĐỜI TNÚ VÀ CUỘC ĐỒNG KHỞI CHO LŨ LÀNG NGHE
+ Tnú và Mai làm liên lạc cho anh Quyết, được anh Quyết dạy chữ.
+ Tnú bị bắt, bị tù ba năm rồi vượt ngục trở về làng chuẩn bị kháng chiến.
+ Tnú lấy Mai, sinh được đứa con trai. Giặc kéo đến bắt mẹ con Mai tra tấn. Tnú xông ra cứu vợ con và bị giặc bắt đốt cháy mười đầu ngón tay. Cụ Mết chỉ huy dân làng giết giặc, cứu Tnú. Từ đó, làng Xô Man trở thành làng kháng chiến.
+ Tnú tham gia Giải phóng quân.
Sáng hôm sau:
                        TNÚ VỀ LẠI ĐƠN VỊ - CỤ MẾT VÀ DÍT ĐƯA TIỄN – RỪNG XÀ NU
Tác giả kể
 
3. Ý nghĩa nhan đề tác phẩm
- Hình ảnh rừng xà nu là linh hồn của tác phẩm, là cảm hứng chủ đạo, là dụng ý nghệ thuật của tác giả.
- Rừng xà nu gắn bó mật thiết với cuộc sống tinh thần, vật chất của làng Xô Man.
- Rừng xà nu là bức tranh thiên nhiên hùng vĩ đầy sức sống, khao khát ánh sáng mặt trời, luôn sinh sôi nảy nở, bất chấp sự hủy diệt của đạn bom.
- Rừng xà nu là biểu tượng cho sức sống mãnh liệt, niềm khao khát tự do và tinh thần bất khuất kiên cường của người dân Tây Nguyên nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung.khua hunge
B. Đọc-hiểu
I. Hình tượng rừng xà nu
- Chịu nhiều đau thương: Bị tàn phá khốc liệt:
+Làng ở trong tầm đại bác của giặc, đạn bắn đã thành lệ vào nhiều thời điểm trong ngày.
+Cả khu rừng hàng vạn cây không có cây nào là không bị thương.
+Cây lớn: bị chặt đứt ngang nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão, chỗ vết thương, nhựa ứa ra…như cục máu lớn (Nhân hóa: rừng XN như 1 sinh thể có linh hồn).
+Cây con: đại bác chặt đứt làm đôi, vết thương không lành được, cứ loét mãi ra,năm mười hôm thì cây chết.
- Sức sống mãnh liệt, kiên cường trước sự hủy diệt của bom đạn kẻ thù:
+Đạn đại bác không giết nổi chúng.Những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng.
+Cạnh một cây mới ngã gục, bốn, năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời.
+Phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng( khao khát ánh sáng , tự do).
+Có những cây vượt lên được, cành lá sum suê…
+Ưỡn tấm ngực ra che chở cho dân làng.
+Đạn giặc không giết nổi chúng.Đồi xà nu nối tiếp nhau tới chân trời.
- Gắn bó mật thiết với  đời sống của dân làng Xô Man: khói xà nu xông bảng, lửa xà nu trong mỗi bếp, đuốc xà nu soi sáng rừng đêm đồng khởi …
- Hình tượng  xà nu mở đầu và khép lại, xuyên suốt toàn bộ tác phẩm là dụng ý nghệ thuật của nhà văn. Xà nu vừa mang ý nghĩa tả thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng. Xà nu  có mặt trong đời sống hằng ngày, trong lịch sử, trong truyền thống của dân làng Xô man. Xà nu cũng có mặt hầu như ở tất cả những sự kiện trọng đạicủa làng. Xà nu được miêu tả trong sự ứng chiếu với con người và ngược lại. Xà nu  thực sự là một nhân vật có linh hồn. Nó là biểu tượng toàn diện cho  nỗi đau, phẩm chất, sức mạnh của dân làng Xô man. khua hunge
II. Hình tượng nhân vật Tnú:
- Gan góc, dũng cảm, bất khuất: baico, sauye
+ Thuở nhỏ: Tiếp tế lương thực cho cán bộ, làm liên lạc, xẻ rừng, vượt thác, thích nơi hiểm nguy,bị giặc bắt thì nuốt thư, bị tù thì vượt ngục, học chữ thua Mai thì đập đầu tự trừng phạt mình
+ Trưởng thành:
. Chỉ huy thanh niên, đội du kích lấy đá mài rựa, giáo, mác chống lại kẻ thù.
. Bị giặc đốt mười ngón tay Tnú không thèm kêu van.
- Giàu lòng yêu thương:
 +Đối với quê hương: Ba năm đi lực lượng trở về làng nghe âm thanh tiếng chày, đến con nước lớn đầu làng…chân vấp , tim đập bồi hồi, xúc động nhớ từng kỉ niệm, ghi nhớ hình ảnh rừng xà nu.
 + Đối với gia đình: Tình cảm sâu nặng.
. Xé tấm giồ làm địu cho con.
. Đau đớn khi chứng kiến cảnh vợ con bị giặc tra tấn dã man(bứt đứt hàng chục trái vả, mắt như hai cục lửa lớn).
.Tay không nhảy xổ ra giữa lũ giặc,che chở cho vợ con.
- Biết vượt lên bi kịch cá nhân: Vợ con bị giặc sát hại, bản thân bị giặc hủy hoại mười đầu ngón tay -> đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần nhưng Tnú vẫn đứng lên cầm vũ khí chiến đấu, trừng trị kẻ thù, bảo vệ quê hương.
(Bàn tay Tnú:  yêu thương - đau đớn - trả thù)
- Trung thành với cách mạng, có tính kỉ luật cao:
+Quyết học chữ thay anh Quyết làm cán bộ, lãnh đạo phong trào cách mạng của quê hương.
+Bị tra tấn, không khai báo, không kêu van.
+Nghỉ đúng phép dù tình cảm quê hương sâu nặng, quyến luyến.
* Chân lí được đúc rút từ câu chuyện bi tráng củaTnú
- Tnú không cứu được vợ con mình.
- Bản thân bị giặc bắt , trói chặt bằng dây rừng và đốt tay bằng nhựa xà nu→Tnú cường tráng, mạnh mẽ, gan góc, có nhiều phẩm chất nhưng vẫn không cứu được vợ con, không bảo vệ được tình yêu và không cứu được chính đời mình bởi anh chỉ có tay không.
→Chân lí tất yếu: “Chúng nó đã cầm súng , mình phải cầm giáo”. Chỉ có dùng bạo lực cách mạng mới có thể đè bẹp được bạo lực phản cách mạng. Bởi khi chúng ta cầm súng đứng lên chống lại súng đạn của kẻ thù thì mọi thứ đều thay đổi (lửa sẽ tắt trên tay Tnú, lửa soi xác giặc ngổn ngang, lửa cháy sáng rừng đêm trong đêm đồng khởi).
* Mối quan hệ giữa hai hình tượng RXN và Tnú: Gắn bó khắng khít, bổ sung cho nhau để cùng hoàn chỉnh. Rừng xà nu sẽ không thể trải mãi tới  chân trời trong màu xanh bất diệt khi con người còn chưa thấm thía bài học“Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!”
Tóm lại: Tnú  là nhân  vật  trung  tâm  được xây  dựng bằng  bút  pháp giàu chất  sử thi. Tnú
tiêu  biểu cho số phận và con đường đấu tranh của dân tộc Tây Nguyên. Là một trong những  
hình tượng thành công của NTT và văn học chống Mỹ cứu nước.
C. Tổng kết
- Nội dung:
+ Ca ngợi phẩm chất đẹp dẽ của những người con Tây Nguyên trong  kháng chiến chống Mĩ.
+ Khẳng định chân lý thời đại: theo CM là tất yếu, lấy bạo lực cách mạng đập tan bạo lực phản CM để giải phóng quê hương.
- Nghệ thuật:
+ Tác phẩm mang đậm tính sử thi.
+ Tác giả đã chạm khắc được vẻ đẹp của  bức tranh thiên nhiên và  nhân vật anh hùng mang dấu ấn thời đại, phong cách Tây Nguyên .
+ Giọng điệu sử thi trang nghiêm, chất thơ hùng tráng vút lên từ thiên nhiên  và con người miền núi Tây Nguyên đã tạo nên vẻ đẹp độc đáo của tác phẩm.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

DANH MỤC TÀI LIỆU
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây