TRUYỀN THUYẾT AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY

Thứ sáu - 25/09/2020 02:45
Tóm tắt Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy, An Dương Vương, Mị Châu - Trọng Thủy lớp 10, Cốt Truyện An Dương Vương Mị Châu - Trọng Thủy, Kể lại Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy, Em hay xác định đề tài chủ đề tư tưởng của tác phẩm An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy, An Dương Vương, Mị Châu Trọng Thủy ngôn tình, Truyền thuyết An Dương Vương
ngữ văn 10
ngữ văn 10
Tóm tắt Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy, An Dương Vương, Mị Châu - Trọng Thủy lớp 10, Cốt Truyện An Dương Vương Mị Châu - Trọng Thủy, Kể lại Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy, Em hay xác định đề tài chủ đề tư tưởng của tác phẩm An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy, An Dương Vương, Mị Châu Trọng Thủy ngôn tình, Truyền thuyết An Dương Vương

   I. KHÁI QUÁT CHUNG

1. Thể loại

- Truyền thuyết là tác phẩm tự sự dân gian kể về sự kiện và nhân vật lịch sử theo xu hướng lí tưởng hóa, qua đó thể hiện sự ngưỡng mộ, tôn vinh của nhân dân với các nhân vật lịch sử.
- Đặc trưng: Từ cốt lõi là các yếu tố lịch sử kết hợp với các chi tiết hư cấu, tưởng tượng.

2. Xuất xứ

- Trích từ Truyện Rùa Vàng trong Lĩnh Nam chích quái ra đời vào cuối thế kỉ XV.
- Quần thể di tích lịch sử văn hoá làng Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội.

3. Bố cục

- Truyện có thể chia làm 2 phần:
+ Phần 1: (từ đầu … bèn xin hoà): Kể chuyện An Dương Vương xây thành, chế nỏ đánh thắng giặc xâm lược.
- Phần 2: (còn lại): Bi kịch mất nước và bi kịch tình yêu.

4. Chủ đề

- Miêu tả quá trình xây thành, chế nỏ bảo vệ đất nước của An Dương Vương và bi kịch nước mất nhà tan.
- Thể hiện thái độ, tình cảm của tác giả dân gian với từng nhân vật.

II. NỘI DUNG VĂN BẢN

1. Vai trò của An Dương Vương trong sự nghiệp giữ nước

- An Dương Vương có ý thức cảnh giác, lo xây thành, chuẩn bị vũ khí từ khi giặc chưa đến.
+ Dời đô từ vùng núi Nghĩa Linh về đồng bằng (Cổ Loa) để phát triển sản xuất và mở rộng lưu thông.
+ Xây thành, chế nỏ chống xâm lược.
-> Quyết sách sáng suốt: Âu Lạc có thành cao và vũ khí lợi hại chống lại quân xâm lược.
- Nguyên nhân giúp An Dương Vương xây thành và bảo vệ đất nước thành công:
+ Nhà vua kiên trì, quyết tâm không sợ khó khăn.
+ Được thần linh giúp đỡ.
+ Được sự ủng hộ của nhân dân.
+ Tinh thần cảnh giác và quyết tâm sẵn sàng đánh giặc giữ nước của nhà vua.
-> An Dương Vương xứng đáng là vị vua anh hùng, sáng suốt, có tinh thần trách nhiệm và cảnh giác cao, được nhân dân tôn vinh.

2. Bi kịch mất nước và bi kịch tình yêu

a. Bi kịch mất nước

* Nguyên nhân:
- Vua: Chủ quan, mất cảnh giác.
+ Nhận lời cầu hoà, cầu hôn, đặc biệt là cho Trọng Thủy ở rể mà không đề phòng, giám sát.
+ Lơ là trong việc phòng thủ. 
+ Chủ quan khinh địch, quá ỷ lại vào vũ khí.
-> Mất cảnh giác trầm trọng, tạo cơ hội thuận lợi cho kẻ thù tự do vào sâu lãnh thổ.
- Mị Châu: ngây thơ, nhẹ dạ cả tin, mất cảnh giác:
+ Cho Trọng Thủy xem trộm nỏ thần.
+ Rắc lông ngỗng đánh dấu đường cho Trọng Thuỷ lần theo.
-> Trở thành giặc một cách vô tình.
* Hậu quả:
- Đất nước rơi vào tay giặc.
* Hành động của vua:
- Phản công thất bại, phải cùng con gái bỏ chạy về phương Nam.
- Cầu cứu sứ Thanh Giang và biết Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc.
- Chém đầu Mị Châu: Thể hiện sự dứt khoát, quyết liệt và sự tỉnh ngộ muộn màng, nghiêm khắc, đau đớn: Đặt nghĩa nước trên tình nhà.
- Cầm sừng tê giác theo Rùa Vàng xuống biển.
-> Những hư cấu nghệ thuật được sáng tạo nhằm để nhân dân gửi gắm lòng kính trọng đối với thái độ dũng cảm của vị anh hùng, phê phán thái độ mất cảnh giác của Mị Châu là lời giải thích lí do mất nước nhằm xoa dịu nỗi đau mất nước.

b. Bi kịch tình yêu

 - Kết cục tình yêu Mị Châu - Trọng Thủy: cả hai đều phải chết trong đau đớn, trong nỗi ân hận giày vò.
- Nguyên nhân: Do xuất phát tình yêu và hành động của họ khác nhau:
+ Mị Châu ngây thơ, nhẹ dạ cả tin nên bị Trọng Thủy lừa dối, lợi dụng trở thành kẻ có tội với đất nước, với vua cha.
+ Trọng Thủy: Mưu mô, gian dối, lợi dụng tình yêu chân thành của Mị Châu để thực hiện âm mưu xâm lược của vua cha -> Vừa là thủ phạm, vừa là nạn nhân.
* Hình ảnh Ngọc trai - giếng nước và cách đánh giá của tác giả dân gian:
- Nó là sự kết thúc duy nhất hợp lí cho số phận đôi trai gái:
+ Lời khấn của Mị Châu và kết cục ngọc trai, ngọc thạch đã chiêu tuyết cho cho danh dự của nàng, chứng tỏ tấm lòng nàng trong sáng.
+ Nhân dân ta chứng nhận cho sự hối hận của Trọng Thuỷ.
+ Ngọc trai rửa nước giếng càng sáng chứng tỏ Trọng Thuỷ đã tìm được sự hoá giải trong tình cảm của Mị Châu ở thế giới bên kia.
-> Một sáng tạo nghệ thuật đẹp đến mức hoàn mĩ, thuộc về cách ứng xử thấu tình đạt lý của dân tộc. Sự bao dung, thông cảm của nhân dân và thái độ nghiêm khắc với sai lầm của Mị Châu cùng bài học lịch sử về mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng.
-> Bài học rút ra từ bi kịch mất nước, bi kịch tình yêu:  Luôn đề cao tinh thần cảnh giác với kẻ thù; xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa riêng với chung, giữa nhà với nước, giữa cá nhân và cộng đồng.

III. ĐÁNH GIÁ

-  Kết cấu chặt chẽ đến hoàn mĩ. Cốt truyện li kì, hấp dẫn nhờ sự kết hợp cốt  lõi lịch sử với yếu tố thần kì. Kết hợp bi - hùng, xây dựng được những chi tiết kì ảo có giá trị nghệ thuật cao (ngọc trai - giếng nước). Xây dựng những nhân vật truyền thuyết tiêu biểu.
- Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy giải thích nguyên nhân việc mất nước Âu Lạc và nêu bài học lịch sử về việc giữ nước, tinh thần cảnh giác với kẻ thù, cùng cách xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa riêng với chung, giữa nhà với nước, cá nhân với cộng đồng. Tác giả dân gian gửi gắm tâm hồn nhân hậu, thái độ bao dung song cũng không kém phần nghiêm khắc.

B. LUYỆN ĐỀ

ĐỀ 1:

An Dương Vương được biết đến là vị vua đầu tiên và duy nhất của nhà nước Âu Lạc. Ông được đánh giá là một vị vua vừa có công vừa có tội, vừa được ca ngợi vừa bị phê phán. Đồng thời An Dương Vương còn là một người cha vừa đáng thương vừa đáng trách khi vung gươm chém con gái Mị Châu.
Qua truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thuỷ, hãy phân tích nhân vật An Dương Vương để làm rõ nhận định trên.
DÀN Ý CHI TIẾT
Ai về qua huyện Đông Anh,
Ghé thăm phong cảnh Loa thành Thục vương.
Cổ Loa hình ốc khác thường
Trải bao năm tháng nẻo đường còn ghi.
Bài ca dao gắn liền với di tích Cổ Loa và tên tuổi của người anh hùng đã có công xây thành chính là Thục phán An Dương Vương. Với người Việt, truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thuỷ không phải là một câu chuyện lạ lẫm, nó là một trong những truyền thuyết tiêu biểu hấp dẫn và có ý nghĩa nhất trong chuỗi truyền thuyết về Âu Lạc và An Dương Vương trong kho tàng văn học dân gian phong phú của dân tộc ta. Trong tác phẩm, bằng chí tưởng tượng phong phú, kết hợp giữa những yếu tố hư cấu với các yếu tố lịch sử, ông cha ta đã đưa ra cách lí giải của riêng mình về nguyên nhân mất nước Âu Lạc; bài học lịch sử cho con cháu muôn đời trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Đặc biệt bày tỏ tình cảm, thái độ và cách đánh giá về nhân vật lịch sử An Dương Vương.
Tương truyền rằng: sau khi được truyền ngôi báu, An Dương Vương đã có có ý thức xây dựng và bảo vệ đất nước khi cho dời đô từ vùng núi Nghĩa Linh về vùng đồng bằng Cổ Loa. Việc làm đó đã thể hiện ý chí và quyết sách sáng suốt của An Dương Vương, thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của nhà vua. Bởi về đồng bằng là xu thế tất yếu trong sự phát triển của đất nước. Đồng bằng với đất đai màu mỡ, nguồn nước dồi đào, thuận lợi cho việc trồng lúa nước. Đồng bằng với sông ngòi ngang dọc trùng xếp, đi thuyền, đi bộ đều dễ dàng, vô cùng thuận lợi cho việc phát triển sản xuất và mở rộng lưu thông. Không chỉ chăm lo sản xuất để phát triển, An Dương Vương còn cho xây thành đắp lũy, sẵn sàng phòng thủ giặc ngoại xâm. Công việc xây thành của nhà vua gặp rất nhiều khó khăn, thành hễ cứ đắp tới đâu lại lở tới đấy, tốn nhiều công sức mà không thành nhưng với lòng yêu nước, không sợ khó, sợ khổ, không nản chí, nhà vua đã không bỏ cuộc mà kiên trì, quyết tâm xây thành giữ nước. An Dương Vương lập đàn trai giới cầu đảo bách thần, may sao được cụ già có tướng lạ mách bảo kế sách, vua đã ra tận cửa Đông đón sứ Thanh Giang và dùng xe bằng vàng rước Rùa Vàng vào thành.
Được sự giúp đỡ của Rùa Vàng, An Dương Vương đã xây được Loa Thành kiên cố, là thành trì vững chắc để chống lại kẻ thù xâm lược. Tuy thành đã xây xong, song An Dương Vương vẫn lo lắng khi không biết làm sao để Âu Lạc chống lại được kẻ thù nếu như không có vũ khí lợi hại. Cảm động trước tấm lòng vì dân, vì nước của nhà vua, Rùa Vàng đã cảm động tháo vuốt của mình cho An Dương Vương để làm lẫy nỏ thần. Vua nhận vuốt rồi truyền sai Cao Lỗ làm nỏ, lấy vuốt rùa làm lẫy trở nỏ thần có sức mạnh ghê gớm. Mỗi lần bắn là có cả ngàn mũi tên bay ra, nỏ thần trở thành vũ khí tấn công từ xa hiệu nghiệm, giúp An Dương Vương đánh tan quân Triệu Đà khi chúng sang xâm lược Âu Lạc, khiến chúng thua lớn chạy về Trâu Sơn đắp luỹ không dám đối chiến, bèn xin hoà. Từ đó có thể thấy An Dương Vương có ý thức cảnh giác, lo xây thành, chuẩn bị vũ khí từ khi giặc chưa đến. Đây là quyết sách sáng suốt giúp Âu Lạc có thành cao và vũ khí lợi hại chống lại quân xâm lược.
Ngoài tầm nhìn xa trông rộng, tấm lòng luôn lo nghĩ cho đất nước, sự kiên trì, quyết tâm không sợ khó khăn cộng với tinh thần cảnh giác và quyết tâm sẵn sàng đánh giặc giữ nước của An Dương Vương thì không thể không kể đến sự giúp đỡ của thần linh, sự ủng hộ của nhân dân. Đó chính là những nguyên nhân giúp Thục phán xây thành và bảo vệ đất nước thành công. Chi tiết nhà vua xây thành được Rùa vàng giúp đỡ, chi tiết rùa vàng cho vuốt để An Dương Vương chế tạo nỏ thần đã khẳng định việc làm của An Dương Vương được làng dân, hợp lòng trời nên được cả thần và người cùng giúp đỡ. Đó là một cách để nhân dân ta ngợi ca công đức của nhà vua, tự hào về những chiến công và thành tựu của nhân dân thời Âu Lạc. An Dương Vương xứng đáng là vị vua anh hùng, tài giỏi, sáng suốt, có tinh thần trách nhiệm và cảnh giác cao, được nhân dân tôn vinh, đời đời mến phục ngợi ca.
Là một vị vua anh minh, sáng suốt lại là người có công lao to lớn trong sự nghiệp dựng nước nhưng An Dương Vương cũng mắc sai lầm nghiêm trọng, sai lầm đó là một trong những nguyên nhân chính đẩy Âu Lạc rơi vào thảm kịch nước mất nhà tan.
Thảm kịch đó bắt nguồn từ việc An Dương Vương nhận lời cầu hòa sau đó là nhận lời cầu hôn của Triệu Đà, gả con gái mình là Mị Châu cho con trai Triệu Đà là Trọng Thủy. Đặc biệt là cho Trọng Thuỷ ở rể mà không đề phòng, giám sát. Nhà vua đã chủ quan, mơ hồ không nhận rõ âm mưu của kẻ thù xâm lược. Rõ ràng việc An Dương Vương gả con gái cho con trai Triệu Đà là không sai. Vì trong chính trị, hôn nhân nhiều khi chính là giao ước liên minh trong hoà bình, nhất là khi đó Âu Lạc đã từng trải qua nhiều năm chiến tranh, một cuộc hôn nhân làm giảm bớt lửa binh đao chẳng phải là hay hơn cho cư dân hai nước? An Dương Vương nhận lời cầu hôn của cha con Triệu Đà ccó lẽ cũng vì hi vọng xây dựng một liên minh tốt đẹp trong hoà bình. Tiếc rằng liên minh đó đã không thành bởi An Dương Vương thực lòng còn cha con Triệu Đà lại có sẵn âm mưu xâm lược. Chính từ việc quá tin rằng Triệu Đà cũng thực lòng muốn hòa hiếu nên nhà vua đã mất cảnh giác, cho Thuỷ ở rể Âu Lạc mà không đề phòng chẳng khác gì nuôi ong tay áo. Đó là sự mất cảnh giác trầm trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho kẻ thù tự do vào thám thính đất nước.
Có thể nói, sai lầm nghiêm trọng nhất của An Dương Vương là nhà vua đã quá chủ quan, khinh địch. Nhà vua không những đã không giám sát, đề phòng Trọng Thuỷ khi hắn ở rể Âu Lạc mà khi hay tin Đà phát binh đánh Âu Lạc, An Dương Vương ỷ vào sức mạnh của nỏ thần, vẫn điềm nhiên ngồi đánh cờ, chủ quan tự mãn, cười mà nói rằng: Đà không sợ nỏ thần sao?. Quân Triệu Đà tiến sát thành vua mới mang nỏ thần ra bắn nhưng không còn linh nghiệm. Những sai lầm nghiêm trọng của người đứng đầu đất nước không còn cơ hội sửa chữa. An Dương Vương thảm bại, phải gấp rút lên ngựa đưa con gái chạy về hướng Nam. Khi phải bỏ cả thành trì để chạy thoát thân, Thục phán đem theo Mị Châu hi vọng giữ lại một chút hạnh phúc gia đình. An Dương Vương cùng đường lên kêu cứu sứ Thanh Giang nhưng vua không ngờ nước mất thì nhà cũng tan. Mị Châu - đứa con gái rất mực yêu thương của mình lại chính là giặc. Lời thét lớn của Rùa Vàng làm nhà vua như tỉnh ngộ: Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó.Chỉ một câu nói ngắn gọn nhưng đủ để vua hiểu người đã gây ra thảm kịch mất nước. Hành động của An Dương Vương tuốt kiếm tự tay chém đầu con gái là hành động trừng phạt nghiêm khắc,dứt khoát của An Dương Vương đứng về phía công lí và quyền lợi dân tộc để trừng trị kẻ đắc tội với non sông.
An Dương Vương là một người cha đáng trách khi thẳng tay trừng phạt con gái. Nhưng đồng thời là vua đứng đầu một nước, ông không thể không trừng trị kẻ đã gây là lỗi lầm làm mất nước. Đặt quyền lợi của quốc gia lên trên lợi ích của gia đình, chứng tỏ nhà vua đã có sự tỉnh ngộ dù đó là sự tỉnh ngộ muộn màng, không có gì còn có thể cứu vãn, nhưng chính trong cái giờ phút thử thách quyết liệt ấy, càng khẳng định lòng yêu nước của nhà vua trước sau không thay đổi. Hơn thế vì đặt nghĩa nước lên trên tình nhà, phải làm đúng đạo của bậc quân vương, kẻ phạm tội không thể không trừng trị nên An Dương Vương cũng là một người cha đáng thương khi phải nghiêm khắc trừng phạt con trong đau đớn. Xây dựng chi tiết An Dương Vương cầm sừng tê bảy tấc theo Rùa Vàng xuống biển nhằm thể hiện trong lòng nhân dân, An Dương Vương không chết mà hòa vào cõi bất tử cùng non sông, nhân dân vẫn kính trọng, tôn vinh và ngưỡng mộ nhà vua.
Với kết cấu chặt chẽ đến hoàn mỹ, cốt truyện ly kỳ hấp dẫn, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố lịch sử với yếu tố kỳ ảo đã phản ánh quan điểm đánh giá, thái độ và tình cảm của nhân dân về nhân vật An Dương Vương.
Qua việc xây dựng hình tượng nhân vật An Dương Vương, nhân dân gửi gắm lòng kính trọng đối với thái độ dũng cảm, biết lo cho nhân dân và ý thức bảo vệ đất nước của người anh hùng An Dương Vương. Đồng thời cũng phê phán thái độ chủ quan, mất cảnh giác của nhà vua khiến đất nước rơi vào tay Triệu Đà. Không chỉ cho thấy Thục phán là vị vua vừa có công vừa có tội, vừa được ca ngợi vừa bị phê phán, nhân dân còn cho thấy sự đáng trách và cả đáng thương của An Dương Vương khi đứng trên cương vị một người cha trước lỗi lầm của con gái. Câu chuyện về người anh hùng Thục phán An Dương Vương sẽ còn được lưu truyền như một lời răn dạy cho mọi thế hệ: không được chủ quan, khinh suất, luôn đề cao cảnh giác với âm mưu của kẻ thù xâm lược trong công cuộc giữ nước.
LUYỆN ĐỀ (Tiếp)
ĐỀ 2:
Truyền thuyết Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy là một trong những truyền thuyết tiêu biểu của Việt Nam.
Hãy phân tích nhân vật Mị Châu - Trọng Thủy để làm rõ bi kịch tình yêu của hai nhân vật này.
DÀN Ý CHI TIẾT
Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu.
                 (Tố Hữu)
Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy là một truyền thuyết đặc sắc của người Việt cổ, mang những giá trị lịch sử và nhân văn sâu sắc. Phần đầu của truyền thuyết kể về chuyện An Dương Vương xây thành, chế nỏ giữ nước Âu Lạc, phần còn lại kể về bi kịch tình yêu Mị Châu - Trọng Thủy và việc nước Âu Lạc rơi vào tay Triệu Đà. Trong truyền thuyết này có hai câu chuyện đã được kết cấu theo kiểu lồng ghép là sự đan xen giữa bi kịch mất nước và bi kịch tình yêu. Chính bi kịch mất nước tạo nên bi kịch tình yêu và bi kịch tình yêu mở đường cho bi kịch mất nước. Sự mất cảnh giác đáng trách của An Dương Vương khi gả con gái là công chúa Mị Châu cho con trai Triệu Đà là Trọng Thủy làm mất nước đã đành, nhưng hậu quả của nó mang ý nghĩa bi kịch là làm nên cảnh sinh li tử biệt, tan vỡ tình duyên của Mị Châu - Trọng Thủy. Sự chủ quan đã cuốn An Dương Vương vào bi kịch mất nước và chính nhà vua đã vô tình đẩy Mị Châu lún sâu vào bi kịch tình yêu, để rồi nàng phải chết trong mối oan tình tức tưởi.
Mị Châu là con gái của Thục Phán An Dương Vương, là một cô công chúa lá ngọc, cành vàng, có tâm hồn ngây thơ trong trắng, nhẹ dạ, cả tin và không có một chú gì về ý thức công dân. Mị Châu là người con gái hiền thục, trọn đạo hiếu, vâng lời cha lấy chồng, được gả cho Trọng Thủy thì hết mực yêu thương chồng và tin tưởng chồng. Chính vì quá ngây thơ và tin yêu Trọng Thủy nên việc Mị Châu không giấu giếm Trọng Thuỷ điều gì và cho chồng xem nỏ thần là vô tội và hoàn toàn dễ hiểu. Tuy nhiên trong một đất nước nhiều giặc giã, một nàng công chúa lại chỉ biết làm trọn chữ tòng mà vô tình với vận mệnh quốc gia là có tội. Mị Châu tin yêu chồng không có gì đáng trách nhưng nàng đã vi phạm nguyên tắc bí mật quốc gia của một người dân đối với đất nước, đặt tình riêng lên trên việc nước dù đó chỉ là do sự nhẹ dạ, vô tình. Có thể thấy, Mị Châu rõ ràng đã tin Trọng Thủy đến với nàng bằng cả tấm chân tình. Sự ngây thơ ấy của cá nhân nàng là điều có thể tha thứ , nhưng vì tình riêng mà để lộ bí mật quốc gia thật sự là một tội lỗi khó dung tình.
Nếu sự mất cảnh giác của An Dương Vương là nguyên nhân gián tiếp thì sự nhẹ dạ, ngây thơ của Mị Châu là nguyên nhân trực tiếp gây lên hoạ nước mất. Mị Châu tin yêu chồng bằng một tình yêu mù quáng. Nhân dân ta đã sáng tạo nên hình ảnh áo lông ngỗng là chi tiết nghệ thuật tài tình để thể hiện sáng rõ sự mù quáng đáng trách của Mị Châu. Đáng trách hơn, tình yêu ấy thiếu lí trí sáng suốt đế nỗi nàng không nhận ra được những ẩn ý trong lời nói của Trọng Thủy khi từ biệt để cảnh báo với vua cha. Nàng không đủ tỉnh táo để nhận ra trong lời chồng tiềm tàng hiểm hoạ binh đao: Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hoà, bắc nam cách biệt, ta lại tìm nàng lấy gì làm dấu?. Mị Châu mê muội đến mức không thể nói một lời hỏi nguyên cớ chia lìa, lại chỉ chăm chăm nghĩ về sự đoàn tụ lứa đôi. Đặt tình riêng lên trên vận mệnh quốc gia như vậy quả thật đáng phê phán. Thậm chí khi Trọng Thuỷ đánh tráo nỏ thần, trở về nước, chiến tranh hai nước xảy ra, lẫy nỏ không còn, phải lên ngựa bỏ chạy cùng vua cha, lẽ ra phải biết đó là âm mưu của Trọng Thuỷ, thế mà Mị Châu vẫn nhẹ dạ, mù quáng, không suy xét sự tình, vẫn rắc lông ngỗng làm dấu, có khác gì chỉ đường cho giặc đuổi theo mình? Việc làm đó của nàng đã trực tiếp dẫn tới bi kịch nhà tan. Như vậy Mị Châu đã gây nên tội lớn, nàng cũng phải chịu trách nhiệm trước bi kịch đất nước rơi vào tay giặc. Tội lỗi của nàng là hết sức nặng nề. Chính vì vậy, nhân dân ta không đánh giá nàng theo quan điểm đạo đức phong kiến thông thường mà đứng trên quan điểm của quốc gia, dân tộc để kết tội nàng.Với những lỗi lầm không thể tha thứ của một người dân đối với đất nước, nhân dân ta không những đã để cho Rùa Vàng (đại diện cho công lí của nhân dân) kết tội đanh thép, không khoan nhượng gọi nàng là giặc mà còn để cho Mị Châu phải chết dưới lưỡi kiếm nghiêm khắc của vua cha.
Có những lỗi lầm phải trả bằng cả một kiếp người
Nhưng lỗi lầm em lại phải trả bằng máu toàn dân tộc
                                     (Trước đá Mị Châu, Trần Đăng Khoa)
Tuy Mị Châu đã gây ra lầm lỡ để cơ đồ đắm biển sâu, song thái độ, cách đánh giá của nhân dân vừa thấu tình, vừa đạt lí. Nàng có tội nhưng những tội lỗi mà nàng gây ra không phải là chủ ý của nàng mà do nàng quá nhẹ dạ, yêu chồng bị lừa dối mà mắc tội. Hơn nữa, cuối cùng, nàng cũng đã tỉnh ngộ nhận ra kẻ thù và chấp nhận một cái chết đau đớn. Mị Châu có tội, nàng đã phải đền nhưng nỗi oan của nàng cũng cần được giải. Chi tiết kì ảo, lời nguyền của Mị Châu là một sáng tạo độc đáo đầy nhân văn của cha ông cũng là thể hiện tấm lòng bao dung độ lượng của nhân dân trước hành động của nhân vật. Nhân dân đã cho lời nguyền ấy ứng nghiệm, nàng chết, máu nàng trai ăn phải biến thành ngọc trai, chứng tỏ nhân dân đã hiểu và cảm thông, thương xót, bao dung trước hành động vô tình phản quốc của nàng, chi tiết đó minh chứng cho tấm lòng trong trắng bị dối lừa và cũng phần nào thanh minh cho sự vô tình gây tội của Mị Châu. Cái chết của nàng là một bài học đắt giá cho những ai đặt tình cảm cá nhân lên trên vận mệnh của quốc gia, dân tộc, đất nước, tách mình khỏi những mối quan tâm chung.
Nghe nói khi bị chém
Máu Mị Châu không tan
Bắt biển hoá thành ngọc
Để nghìn thu kêu oan.
(Đền Cuông, Hà Nhật)
Sáng tạo nên chi tiết thần kì, ứng nghiệm với lời cầu khấn trước khi chết của Mị Châu, nhân dân ta đã bày tỏ thái độ bao dung, niềm cảm thông mà minh oan cho nàng. Cái nhìn nhân hậu của nhân dân ta đã dành cho Mị Châu khi để nàng hoá thân thành ngọc thạch, máu hoá thành hạt châu nhưng cũng thật công bằng khi từ lập trường yêu nước phải trừng trị kẻ có tội. Mị Châu quả thật đáng trách nhưng cũng thật đáng thương. Truyền thuyết không còn chỉ kể lại trang sử mất nước mà còn chứa đựng cái nhìn thương cảm cho lứa đôi khi tình yêu phải đối mặt với những âm mưu, toan tính. Đồng thời, thông qua chi tiết thần kì đó, ông cha ta cũng thể hiện thái độ nghiêm khắc của mình và truyền lại một bài học lịch sử muôn đời cho con cháu trong việc giải quyết mối quan hệ riêng - chung.
Nhân vật thứ hai trong bi kịch tình yêu của truyền thuyết chính là Trọng Thủy và là một trong ba nhân vật chính của tác phẩm. Hắn là con trai của Triệu Đà, con rể của An Dương Vương, là chồng của Mị Châu công chúa. Sang Âu Lạc theo mưu kế nham hiểm của cha mình, Trọng Thuỷ lấy Mị Châu không phải vì tình yêu mà chỉ để lợi dụng nàng thực hiện một mưu đồ chính trị, để hoàn thành nhiệm vụ gián điệp được cha hắn giao phó. Và với danh nghĩa một người chồng, Trọng Thuỷ đã hoàn thành xuất sắc vai trò gián điệp ấy. Hắn đã lợi dụng Mị Châu, lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin, lừa gạt tình cảm của nàng để đánh cắp nỏ thần và nham hiểm hỏi Mị Châu một câu hỏi đầy dụng ý trước khi về nước với mục đích để biết cách tìm đường đuổi theo An Dương Vương nếu nhà vua chạy trốn. Chính những việc làm này của hắn là những nguyên nhân trực tiếp dẫn tới bi kịch nước mất nhà tan của cha con An Dương Vương và nhân dân Âu Lạc. Hắn chính là kẻ thù của nhân dân Âu Lạc, là một kẻ rất đáng bị vạch mặt, lên án, tội lỗi đời đời.
Tuy nhiên, xét ở một góc độ khác, Trọng Thuỷ cũng chỉ là nạn nhân của một cuộc chiến tranh xâm lược. Trong tay của Triệu Đà, Trọng Thuỷ không hơn không kém cũng chỉ là một con bài chính trị mà thôi. Hơn nữa, mặc dù là một kẻ độc ác, Trọng Thuỷ cũng không phải hoàn toàn đã mất hết nhân tính của một con người. Chính lời nói của Trọng Thuỷ với Mị Châu trong lúc chia tay, hành động tự vẫn sau chuỗi ngày sống trong sự dày vò, ân hận của hắn đã nói lên điều đó. Như vậy Trọng Thủy vì làm tròn chữ hiếu theo lời dặn của vua cha Triệu Đà mà phải lừa dối người vợ mình yêu thương. Trước lúc chia tay về nước dâng lẫy nỏ thần cho Triệu Đà, Trọng Thuỷ đã nói với Mị Châu: Tình vợ chồng không thể lãng quên … Nếu như đến lúc hai nước thất hòa, Bắc Nam cách biệt ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu?. Đây không hoàn toàn là những lời dối trá, lạnh lùng mà nó ẩn chứa ít nhiều tình cảm bùi ngùi, một nỗi đau li biệt.
Tình cảm dành cho vợ của Trọng Thuỷ còn được thể hiện rõ hơn rất nhiều ở phần cuối cùng của tác phẩm khi tác giả dân gian miêu tả tâm trạng của Trọng Thuỷ sau cái chết của Mị Châu. Không đắm mình trong hào quang, danh vọng, trong hạnh phúc của sự thống trị uy quyền, sau khi Mị Châu chết, Trọng Thuỷ luôn sống trong nỗi niềm thương nhớ, trong nỗi ân hận dày vò và cuối cùng bế tắc, cùng đường hắn đã tự tìm cho mình cái chết. Trọng Thuỷ quyên sinh không phải chỉ là hành động sám hối cho một sai lầm mù quáng, mà còn là sự thức tỉnh của nhân tính, sự phủ nhận chiến tranh, sự từ chối mọi vinh quang quyền lực tìm về với cõi thiên thu để có được một tâm hồn thanh thản. Trọng Thủy cũng là một nạn nhân trong âm mưu xâm lược Âu Lạc, là một người chồng vừa bị oán ghét vừa được xót thương.
Mối tình bi kịch của Mị Châu - Trọng Thủy còn được tiếp nối sau khi hai người chết bởi hình ảnh ngọc trai - giếng nước.  Người ta cho rằng nếu lấy viên ngọc (vốn là máu Mị Châu chảy xuống biển, trai ăn phải mà thành) đem rửa vào nước giếng (nơi Trọng Thuỷ đã nhảy xuống tự tử) thì càng trong sáng hơn. Đây có phải là minh chứng cho tình yêu chung thủy của đôi vợ chồng? Có lẽ là không. Vì tình yêu này là một bi kịch. Và trước khi chết, Mị Châu đã kịp nhận ra mình bị Trọng Thuỷ lừa dối. Hơn nữa, sự nhẹ dạ của nàng đã phải trả giá rất đắt bằng chính sinh mạng của nàng, sinh mạng của người cha thân yêu và số phận của cả dân tộc. Thêm vào đó, qua lời khấn trước khi chết, Mị Châu đã ý thức được tội lỗi nặng nề của mình, nặng đến mức nàng không dám xin tha chết mà chỉ xin được: biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù. Nàng đã nhận ra sai lầm và tự cho đó là mối nhục thù thì hình ảnh ngọc trai - giếng nước không thể là sự ca ngợi cho tình yêu chung thủy được. Có chăng nó là sự minh oan, chiêu tuyết cho Mị Châu ứng với lời nàng đã khấn trước khi vua cha xuống tay. Ngọc trai được rửa càng sáng thêm đã chứng minh cho tấm lòng nàng trong sáng, không hề có ý đồ phản nghịch mưu hại cha, nó cũng khiến tấm lòng chân thật của nàng thêm sáng đẹp để thanh minh với đời.
Nhân dân đã nghiêm khắc trong chi tiết kết cục cuộc đời một kẻ xảo quyệt thâm độc như Trọng Thủy nhưng cũng đã bao dung xếp đặt hình ảnh giếng nước - ngọc trai như sự chiêu tuyết cho linh hồn nhân vật. Chi tiết nước giếng có hồn Trọng Thủy hòa cùng nỗi hối hận vô hạn là sự chứng nhận cho mong muốn hóa giải tội lỗi của hắn; chi tiết ngọc trai kia đem rửa trong nước giếng này lại càng sáng đẹp hơn là chứng nhận Trọng Thuỷ đã tìm được sự tha thứ trong tình cảm của Mị Châu ở thế giới bên kia. Như vậy, ngọc trai - giếng nước là hình ảnh mang ý nghĩa của sự hoá giải hận thù, nói lên truyền thống ứng xử bao dung, đầy nhân hậu của dân gian đối với hai nạn nhân tỉnh ngộ muộn màng của cuộc chiến tranh xâm lược.
Tác phẩm chỉ với ba nhân vật chính nhưng được xây dựng vừa gắn với cốt lõi sự thật lịch sử vừa lung linh yếu tố hoang đường, kì ảo tạo nên chất thơ và mộng tràn đầy trong tác phẩm. Các chi tiết nghệ thuật, ngôn ngữ và hành động được chọn lọc càng khắc họa rõ nét hình tượng nhân vật. Thêm vào đó việc xây dựng hình ảnh nghệ thuật giàu chất tư tưởng - thẩm mĩ càng khiến tác phẩm trở nên cuốn hút, thú vị.
Truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy là một truyền thuyết đặc sắc, tiêu biểu cho thể loại  truyền thuyết Việt Nam. Tác phẩm muôn đời vẫn còn giá trị từ ý nghĩa nhân văn, từ bài học cảnh giác cũng như lời nhắc nhở về sự tỉnh táo trong các mối quan hệ, cách giải quyết các mối quan hệ riêng - chung, cá nhân - cộng đồng. Câu chuyện bi kịch thấm thía ấy cũng là sự thể hiện lập trường và tình cảm rõ ràng của nhân dân ta trước các vấn đề lịch sử và mối quan hệ con người.
ĐỀ 3:
Không chú trọng tính chính xác như các văn bản lịch sử, truyền thuyết đã phản ánh lịch sử một cách độc đáo: những câu chuyện trong lịch sử dựng nước, giữ nước của cha ông ta được khúc xạ qua lời kể của nhiều thế hệ để rồi kết tinh thành những hình tượng nghệ thuật đặc sắc, nhuốm màu thần kì mà vẫn thấm đẫm cảm xúc đời thường.
(Ngữ văn 10, Tập 1, NXB Giáo Dục, 2017, tr. 39)
Anh/ chị hiểu nhận định trên như thế nào ?
Bằng cảm nhận Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy để làm sáng tỏ vấn đề.
                                                 DÀN Ý
1.  Giải thích nhận định:
– Truyền thuyết là tác phẩm tự sự dân gian kể về sự kiện và nhân vật lịch sử (hoặc có liên quan đến lịch sử) phần lớn theo xu hướng lý tưởng hóa, qua đó thể hiện sự ngưỡng mộ và tôn vinh của nhân dân đối với những người có công với đất nước, dân tộc hoặc cộng đồng dân cư của một vùng.
– Hình tượng nghệ thuật là các khách thể đời sống được người nghệ sĩ tái hiện một cách sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật.
– Ý kiến đề cập đến đặc trưng của thể loại truyền thuyết. Truyền thuyết phản ánh lịch sử một cách độc đáo: Không phản ánh lịch sử một cách chính xác, khô khan, đơn giản như các văn bản lịch sử; đằng sau việc phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử là thái độ, tình cảm, cách đánh giá của nhân dân đối với nhân vật và sự kiện lịch sử. Đó là lịch sử được phản chiếu qua lăng kính nghệ thuật của nhân dân, có chức năng nhận thức và thẩm mĩ to lớn.
– Như vậy, cốt lõi hiện thực và yếu tố hư cấu, tưởng tượng là đặc trưng cơ bản của thể loại truyền thuyết.
+ Cốt lõi lịch sử: Nếu truyện cổ tích kể về những điều không có thật, không thể xẩy ra trong thực tế thì truyền thuyết kể về các sự kiện lịch sử đã xẩy ra trong quấ khứ. Nhân vật cổ tích là hư cấu còn nhân vật truyền thuyết do chính lịch sử tạo ra, tuy không phải nhân vật hư cấu nhưng cũng không phải bản sao của lịch sử. Nhân dân đã lựa chọn những nhân vật mang ý nghĩa biểu trưng cho lịch sử khái quát của dân tộc Thánh Gióng, Sơn Tinh) hoặc những nhân vật có thật trong lịch sử, vừa phản ánh lịch sử vừa lý tưởng hóa nhân vật để từ đó gửi gắm thái độ, tình cảm của nhân dân.
+ Yếu tố hư cấu: Hư cấu là vận dụng trí tưởng tượng để sáng tạo nên những nhân vật, những câu chuyện, những tác phẩm nhằm phản ánh cuộc sống và thực hiện những mục đích nghệ thuật nhất định. Hư cấu trong văn học dân gian là hư cấu kỳ ảo. Nếu như hư cấu kỳ ảo trong truyện cổ tích nhằm thực hiện giấc mơ công lý, triết lý sống ở hiền gặp lành thì hư cấu kỳ ảo trong truyền thuyết nhằm để giải thích các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử, thông thường để ngợi ca.
– Nhờ yếu tố hư cấu kỳ ảo, những câu chuyện lịch sử trở nên sinh động, hấp dẫn. Nó là sản phẩm của trí tượng tưởng, là đôi cánh của nghệ thuật giúp cho hình tượng trở nên lung linh, rực rỡ và thiêng liêng. Nó cũng phản ánh thái độ, tình cảm của nhân dân đối với các sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử. Vì vậy, hình tượng nghệ thuật trong truyền thuyết nhuốm màu sắc thần kì mà vẫn thấm đẫm cảm xúc đời thường.
 
2. Cảm nhận Truyện An Dương và My Châu Trọng Thủy để làm sáng tỏ nhận định:
a. Cốt lõi lịch sử:
– Truyện An Dương Vương và Mỵ Châu Trọng Thủy không phải là lịch sử chính xác mà là sáng tác văn học dân gian về lịch sử. Truyện chứa đựng cốt lõi lịch sử: Nước Âu Lạc vào thời An Dương Vương đã được dựng lên, có thành cao hào sâu, vũ khí đủ mạnh để chiến thắng cuộc xâm lược của Triệu Đà nhưng về sau đã bị rơi vào tay kẻ thù.
b. Yếu tố hư cấu kỳ ảo:
– Cụ già từ phương đông lại báo tin về sứ Thanh giang – Rùa Vàng giúp An Dương Vương xây thành Ốc là nhân vật kỳ ảo, nhằm đề cao tính chất đúng đắn của việc xây thành đắp lũy. Hành động đó của nhà vua được cả thần và người ủng hộ.
– Nỏ thần làm bằng móng rùa, bắn một phát chết hàng vạn tên giặc chính là yếu tố kỳ ảo nhằm thần thánh hóa sức mạnh của vũ khí trong tay người Âu Lạc và khẳng định tinh thần cảnh giác, chuẩn bị chống giặc ngoài của An Dương Vương.
– Máu Mị Châu chảy xuống biển thành ngọc là yếu tố kì ảo minh chứng cho tấm lòng trong trắng mà bị lừa dối của nàng. Hình ảnh đó phần nào thanh minh cho sự vô tình gây tội của Mị Châu và thể hiện thái độ cảm thông, thương xót, bao dung của nhân dân đối với nàng.
–  An Dương Vương cầm sừng tê theo Rùa Vàng đi xuống biển là yếu tố kì ảo thể hiện thái độ và tình cảm của nhân dân đối với An Dương Vương. Nhân dân thương tiếc vị vua anh dũng của mình nên không muốn ông chết. Chi tiết lòng biển bao dung đón người anh hùng trở về đã thể hiện sự ngưỡng mộ và thương tiếc của họ.
cTruyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy kể lại câu chuyện lịch sử ấy  bằng những hình tượng nghệ thuật đặc sắc, nhuốm màu thần kì mà vẫn thấm đẫm cảm xúc đời thường:
– Hình tượng nhân vật Rùa Vàng, nhân vật An Dương Vương, nhân vật Mị Châu – Trọng Thủy… Đó là những hình tượng nhân vật chứa đầy mâu thuẫn và những mâu thuẫn ấy vừa thuộc về cá nhân vừa phản ánh được những mâu thuẫn gay gắt giữa dân tộc ta với kẻ thù xâm lược.
– Đó là những hình tượng nghệ thuật đặc sắc có sự kết hợp giữa cốt lõi lịch sử và yếu tố tưởng tượng, hư cấu.
3. Đánh giá:
– Truyền thuyết phản ánh lịch sử một cách độc đáo: Kết hợp nhuần nhuyễn yếu tố lịch sử với yếu tố hư cấu kỳ ảo để phản ánh quan điểm đánh giá, thái độ và tình cảm của nhân dân về các sự kiện lịch sử và các nhân vật lịch sử.
– Từ những hình tượng nghệ thuật đặc sắc trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy, nhân dân ta muốn rút ra và truyền lại cho các thế hệ sau bài học lịch sử về ý thức đề cao cảnh giác với âm mưu của kẻ thù xâm lược trong công cuộc giữ nước. Bài học ấy vấn còn hết sức có ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay.
– Cách phản ánh lịch sử độc đáo của thể loại truyền thuyết đem đến bài học cho sáng tạo và tiếp nhận văn học: Nhà văn cần nhào nặn từ chất liệu hiện thực sáng tạo nên những hình tượng nghệ thuật độc đáo, vừa có giá trị thẩm mĩ to lớn, vừa có ý nghĩa nhận thức, giáo dục sâu sắc; người tiếp nhận truyền thuyết cần hiểu đúng đặc trưng thể loại, ý nghĩa của những hư cấu nghệ thuật để từ đó trân trọng những di sản nghệ thuật của cha ông ta để lại.
ĐỀ 4:
Cảm nhận về nhân vật Mị Châu trong truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ, có người khẳng định: “Phút sai lầm của một người, dân tộc phải trả giá bằng ngàn năm nô lệ. Tội đó của Mị Châu không thể dung tha”.
Lại có người viết:
Am Mị Châu thờ bức tượng không đầu
                   Cảnh báo một trái tim khờ dại.
                   Thử hỏi, nửa thế giới này đang tồn tại
                   Đã yêu rồi, ai không giống Mị Châu?
(Vô đề – Hạnh Mai, Tạp chí Người Hà Nội, số 115, 8- 2009)
Thông qua việc phân tích nhân vật Mị Châu, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên và đưa ra quan điểm của bản thân mình

                                                             DÀN Ý.
1.Giải thích ý kiến
 Ý kiến thứ nhất nhấn mạnh vào hậu quả sự sai lầm của Mị Châu, từ đó đưa ra lời luận tội nghiêm khắc.
– Ý kiến thứ hai (phát biểu ở dạng tác phẩm thơ) thiên về tìm nguyên nhân của sự sai lầm,  đặt ra câu hỏi nhằm bênh vực Mị Châu, cho sự “khờ dại” đó là bản chất của tình yêu, bản chất của người phụ nữ khi yêu.
Mỗi ý kiến một quan điểm đánh giá khác nhau về nhân vật Mị Châu, kẻ kết tội, người bênh vực. Đó cũng là sự phong phú trong tiếp nhận văn học, sự hấp dẫn mà hình tượng văn học tạo ra.
2.Phân tích nhân vật Mị Châu, bình luận những ý kiến trên.
Phân tích nhân vật
– Giới thiệu khái quát về nhân vật
– Sự sai lầm của Mị Châu:
+ Mị Châu không chỉ là một người dân của đất nước Âu Lạc mà còn là một nàng công chúa, có vai trò quan trọng đối với cả quốc gia, nhưng nàng đã ngây thơ không cảnh giác, coi bí mật quốc gia như tài sản riêng của gia đình. Nàng cho Trọng Thuỷ xem nỏ thần, lại còn giảng giải cho y cách sử dụng nỏ. Hành động đó đã vô tình tiếp tay cho kẻ thù có thêm cơ hội thôn tính nước Âu Lạc.
+ Khi chiến tranh xảy ra, Mị Châu vẫn rắc lông ngỗng dọc đường chạy loạn. Một lần nữa Mị Châu đã vô tình chỉ dẫn cho quân giặc chạy theo, đưa hai cha con đến chỗ cùng đường tuyệt lộ. Nàng chỉ kịp nhận ra sự thật đau lòng trước lúc rơi đầu.
– Nguyên nhân của sự sai lầm: sự thiếu cảnh giác của bản thân nàng.
– Hậu quả của sự sai lầm: Dân tộc rơi vào chiến tranh, loạn lạc, nước mất, nhà tan. Nàng chết dưới lưỡi kiếm oan nghiệt của cha.
– Thái độ của tác giả dân gian với sai lầm đó của Mị Châu:
+ Tác giả dân gian đã để thần Kim Quy hiện lên quát lớn “Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó”. Câu nói ấy cũng đồng thời là lời kết tội đanh thép của công lí, của nhân dân cho hành động vô tình mà phản quốc của Mị Châu. Đó cũng là bài học đắt giá về mối quan hệ giữa tình cảm cá nhân với trách nhiệm công dân.
+ Hình ảnh máu Mị Châu chảy xuống biển thành ngọc, xác của nàng biến thành ngọc thành là những yếu tố kì ảo, minh chứng cho tấm lòng trong trắng mà bị lừa dối của nàng. Hình ảnh đó phần nào thanh minh cho sự vô tình gây tội của Mị Châu và thể hiện thái độ cảm thông, thương xót, bao dung của nhân dân đối với nàng.
  3.   Bình luận hai ý kiến
– Ý kiến thứ nhất đúng khi luận tội Mị Châu với những hậu quả mà sai lầm của nàng đã gây ra. Ý kiến thứ hai tỏ ra có lý khi tìm nguyên nhân của sự sai lầm là do bản chất của trái tim yêu.
– Tuy nhiên, cần đặt tình yêu đôi lứa trong mối quan hệ với vận mệnh quốc gia, vận mệnh
cộng đồng, để thấy: Trong một đất nước nhiều giặc giã, luôn đứng trước nguy cơ của những cuộc xâm lược, một nàng công chúa chỉ biết lắng nghe tiếng nói của con tim, của tình yêu mà vô tình với sự sống còn của xã tắc chính là có tội.
– Ngay bản thân Mị Châu trước khi chết cũng nhận ra tội lớn của mình, nàng chỉ mong rửa tiếng “bất trung, bất hiếu” chứ không kêu oan, cũng không xin tha tội. Mị Châu được người Âu Lạc xưa và người Việt Nam đời đời thương xót chính là vì đã biết tội, dám nhận tội và cam lòng chịu tội.

                          TƯ LIỆU THAM KHẢO
1. Ý nghĩa hình ảnh ngọc trai giếng nước.
BÀI THAM KHẢO
Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thuỷ kết thúc với sự thất bại của Âu Lạc, An Dương Vương đi vào lòng biển, Mị Châu, Trọng Thuỷ phải chết. Tuy kết thúc có phần đau đớn song câu chuyện không vì thế mà quá bi thương bởi trong sâu thẳm vẫn sáng lên niềm tin, chất nhân văn sâu sắc qua hình ảnh ngọc trai - giếng nước.
Chúng ta có thể thấy rằng ngọc trai - giếng nước vừa là hình ảnh có giá trị thẩm mĩ cao, vừa là một tình tiết đắt xét về phương diện tổ chức cốt truyện. Nó là sự kết thúc duy nhất hợp lí cho số phận của đôi trai gái Mị Châu, Trọng Thủy, cùng với sự thể hiện tư tưởng, tình cảm, cách đánh giá của nhân dân đối với bi kịch tình yêu này nói chung, nhân vật Mị Châu nói riêng.
Nàng Mị Châu bởi nhẹ dạ, cả tin làm nên nổi cơ đồ đắm biển sâu. Nàng đã phải nhận lấy cái chết cho danh nghĩa một kẻ bất hiếu, phản nghịch. Nhưng sâu xa, tác giả dân gian đã thấu hiểu nỗi lòng một người con gái ngây thơ, trong trắng vì tình yêu đã vô tình gây nên tội mà đã cho nàng được hoá thành những viên ngọc trai. Những viên ngọc trai lấp lánh như đáp lại lời cầu nguyện của nàng trước khi vua cha chém đầu. Nàng không phải là người có lòng phản nghịch muốn hại cha, nàng là người có lòng trung hiếu nhưng vô tình bị người ta lừa dối. Những viên ngọc ấy ẩn sâu trong lớp vỏ trai dưới làn nước đầy bụi bẩn vẫn thanh lọc để sáng lên như chính tâm hồn ngây thơ trong trắng của Mị Châu. Ánh sáng ngọc trai ám ảnh tâm trí người đọc, tìm sự chia xẻ, đồng cảm. 
Tác giả dân gian đã có tấm lòng vô cùng độ lượng khi thấu hiểu và cảm thông với nàng Mị Châu. Để nàng được toại nguyện biến thành ngọc trai. Sự hoá thân ấy mang theo một ước mơ của nhân dân về những Mị Châu sáng suốt sau này, vừa say đắm yêu thương vừa luôn luôn cảnh giác.
Nói về Trọng Thuỷ. Hắn là một kẻ chiến thắng trên phương diện chính trị nhưng lại là kẻ thất bại thảm hại về phương diện tình cảm. Hắn đã mất đi người vợ yêu quí, mất đi sự thanh thản trong tâm hồn và càng ám ảnh hơn chính hắn gây nên cái chết Mị Châu trong trắng, ngây thơ hết lòng yêu thương hắn. Giếng nước ở Loa thành là tấm gương hội tụ và phản chiếu tất cả tội ác mà Trọng Thuỷ gây nên. Chính ở nơi này hắn nhìn thấy bản chất xấu xa của mình và thực lòng hối cải. Trọng Thuỷ nhảy xuống giếng tự vẫn, dòng máu hoà dòng nước nơi giếng ngọc là sự chứng nhận cho sự hối cải tội lỗi của hắn.
Từ tương truyền, nếu dùng nước giếng ở Cổ Loa mà rửa ngọc thì ngọc thêm sáng hơn, có người cho rằng, hình ảnh ngọc trai - giếng nước là hình ảnh ngợi ca mối tình thuỷ chung của Mị Châu - Trọng Thuỷ. Nhưng thiết nghĩ, với tinh thần yêu nước, cha ông ta sẽ không bao giờ sáng tạo nghệ thuật để ngợi ca những ai đưa họ đến bi kịch mất nước. Chỉ có thể lí giải rằng, hình ảnh ngọc sáng hơn bởi ở thế giới bên kia Mị Châu đã tha thứ, hoá giải tội lỗi cho Trọng Thuỷ. Màu ngọc ấy cũng sáng như tấm lòng yêu thương, vị tha của công chúa Mị Châu. Hư cấu chi tiết này, người xưa còn muốn giảm nhẹ bớt tội lỗi của nàng trong việc mất cảnh giác làm nước mất, nhà tan.
Để Mị Châu biến thành ngọc trai, Trọng Thuỷ tự vẫn nơi giếng nước và để hình ảnh ngọc trai - giếng nước sáng là tạo nghệ thuật đẹp tới mức hoàn mĩ. Đó chính là tấm lòng nhân đạo bao dung, nhân hậu của nhân dân. Nó thể hiện truyền thống nhân văn sâu sắc.
Chúng ta không thể không nhắc tới Trọng Thuỷ. Một nhân vật với vị trí và bản chất khá phức tạp trong cốt truyện.
Trọng Thuỷ là con Nam Việt vương Triệu Đà - luôn có âm mưu thôn tính Âu Lạc. Trọng Thuỷ sang Âu Lạc với mục đích giảng hoà để đánh cắp nỏ thần. Trước lúc cầu hôn Mị Châu, Trọng Thuỷ chưa hề có cảm tình mà chỉ là toan tính. Đến khi trở thành vợ chồng với Mị Châu, tình yêu của Trọng Thuỷ mới nảy nở. Nhưng ý thức làm con, làm tôi trung thành trong hắn vẫn lớn hơn. Hắn dối lừa người vợ cả tin, ngây thơ của mình để đánh cắp nỏ thần, thôn tính nước Âu Lạc, dồn An Dương Vương và Mị Châu đến bước đường cùng. Hắn đúng là tên gián điệp nguy hiểm trong cái nhìn của cha ông chúng ta. Hắn xứng đáng phải chịu nỗi ân hận vò xé tâm can khi dẫn đến cái chết của người vợ yêu quí. Không có nổi khổ nào bằng sự day dứt lương tâm. Bản án đích đáng của Trọng Thuỷ là cái chết trong nổi ám ảnh. Nhân dân đã bày tỏ thái độ căm phẫn không tha thứ và không đội trời chung với kẻ cướp nước. Kẻ cướp nước sẽ bị toà án lương tâm và lịch sử phán xét, sớm muộn chúng sẽ thất bại thảm hại trong cuộc chién tranh chính nghĩa bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia. Đấy là niềm tin mạnh mẽ của nhân dân trước những thử thách của lịch sử.
Song không vì lòng căm phẫn mà khiến dân gian đánh mất đi truyền thống nhân văn sâu sắc của dân tộc. Hình ảnh ngọc trai - giếng nước chính là sự khoan hồng, ân xá cho kẻ đã biết ân hận, khát khao được hoá giải tội lỗi như Trọng Thuỷ.
Mỗi nhân vậtutrong truyền thuyết này được nhìn nhận, đánh giá, định đoạt số phận một cách khác nhau. Ở đối tượng này có hơi dễ dãi, (như đối với An Dương Vương) ở đối tượng kia có phần hơi nghiêm khắc (như đối với Mị Châu). Song nhìn chung những nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử ấy đã được cảm nhận ghi lại bằng tất cả lòng nhiệt thành, tự tôn dân tộc. Và nhất là, cái sâu sắc nhất đọng lại sau mỗi số phận nhân vật là tình người, chất nhân văn truyền thống.
Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thuỷ là một truyền thuyết đẹp, để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Câu chuyện là một cách giải thích nguyên nhân việc mất nước Âu Lạc. Qua đó nêu lên bài học lịch sử về tinh thần cảnh giác với kẻ thù và cách xử lí đúng đắn mỗi quan hệ giữa riêng với chung, giữa nhà với nước, giữa cá nhân với cộng đồng. Thể hiện chất trí tuệ sắc sảo, bản chất nhân đạo sâu sắc của dân tộc Việt Nam ta.
                                                                      (Theo: Những bài văn chọn lọc lớp 10)
2. Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy: bài học cảnh giác hay bi kịch tình yêu ?
BÀI THAM KHẢO
Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu
Trái tim nhầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc.
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu.
(Tố Hữu - Tâm sự)
An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy là truyền thuyết đẹp của người xưa với chủ đề dựng nước và giữ nước, để lại cho đời sau bài học cảnh giác chính trị sâu sắc và thấm thía. Nhưng có phải câu chuyện chỉ chứa dựng một tấn bi kịch là mất nước hay không? Theo tôi câu chuyện là sự đan xen giữa cả hai bi kịch mất nước và tình yêu. Chính khi bi kịch mất nước đã tạo nên bi kịch tình yêu và bi kịch tình yêu đã mở đường cho bi kịch mất nước.
Cả hai tấn bi kịch bắt đầu khi An Dương Vương để tình riêng lấn át tầm nhìn của một đấng minh quân. Vua cho Trọng Thủy về ở rể mà chẳng mảy may nghi ngờ không chút cảnh giác chính vì thế vua đã để Trọng Thủy có cơ hội mang mầm tai họa vào bén rễ trong Loa Thành. Sự mất cảnh giác đã cuốn vua vào bi kịch mất nước do chính tay mình tạo nên; nhưng hậu quả đâu chỉ dừng lại ở đó, chính An Dương Vương đã đẩy con gái là công chúa Mị Châu vào con đường bi kịch tình yêu.
Truyền thuyết ghi lại bởi người đời sau ngắn gọn, nhưng cốt lõi của bi kịch khá rõ ràng: mối quan hệ thông gia giữa hai nhà vốn dĩ đối địch đã tiềm ẩn những bất trắc khó lường. Vậy mà An Dương Vương lại vô tình gả con gái yêu cho con trai kẻ thù. Theo mạch kể của truyền thuyết không có lí giải nguyên nhân sâu xa khiến Mị Châu tiếp tay cho Trọng Thủy cướp mất nỏ thần Kim Quy. Mị Châu rõ ràng đã quá yêu và tin Trọng Thủy đến với mình bằng tình yêu chân thành vì vậy nàng đã nghe theo mọi lời nói của y. Nếu xét dưới góc độ của một thần tử, nàng mang tội đáng chết vì một thần tử mà dám đem bí mật quân sự quốc gia ra nói với người khác, nhất là khi đó lại là con trai của kẻ thù. Đáng trách hơn, Mị Châu bị tình yêu làm mờ lí trí đến nỗi chẳng còn đủ tỉnh táo để nhận ra những ẩn ý trong lời nói của Trọng Thủy khi từ biệt để cảnh báo với vua cha. Nàng không còn đủ tỉnh táo để nhận ra trong lời chồng tiềm ẩn hiếm họa binh đao: Ta nay về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hòa bắc nam chia cắt, ta tìm lại nàng biết lấy gì làm dấu? Mị Châu mê muội đến mức không biết hỏi nguyên cớ chia lìa, lại chỉ chăm chăm nghĩ về sự đoàn tụ lứa đôi. Rồi ngay cả khi giặc của Triệu Đà đuổi đến nơi nàng vẫn chẳng chịu trở về với thực tại, mãi đắm mình trong cơn mộng mị, vẫn còn rắc lông ngỗng làm dấu cho Trọng Thủy đuổi theo. Đặt tình riêng lên trên vận mệnh quốc gia như vậy quả là vô cùng đáng trách, đáng phê phán. Nhưng nếu nhìn dưới góc độ của một người con gái bình thường đang yêu một cách cuồng nhiệt thì quả thật Mị Châu đã làm tròn trách nhiệm với con tim của mình. Dù cho có mù quáng đi chăng nữa thì tình yêu của Mị Châu thật đẹp đẽ và trong sáng. Nàng yêu hết mình và hiến dâng tất cả cho người mình yêu. Chính vì lẽ đó mà Mị Châu trở thành thủ phạm góp phần làm nên tấn bi kịch mất nước đồng thời nàng cũng là nạn nhân bất đắc dĩ của tấn bi kịch tình yêu. Mị Châu chẳng làm tròn chữ trung chữ hiếu, nàng chỉ để lại duy nhất cho đời riêng một chữ tình mà thôi.
Đằng sau câu chuyện tình yêu của Mị Châu - Trọng Thủy là cả một âm mưu về chính trị thâm hiểm của Triệu Đà và không ai khác kẻ trực tiếp thực hiện âm mưu đó lại chính là Trọng Thủy. Ngay từ khi bước chân vào Loa Thành y đã lộ nguyên hình là tên nội gián thâm độc, y luôn đặt nhiệm vụ gián điệp lên hàng đầu. Bỉ ổi hơn, y lợi dụng luôn cả người vợ ngây thơ để thực hiện gian kế. Xét về bản chất Trọng Thủy là một kẻ tham lam và gian trá. Chính điều đó giúp y hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, y đã làm tròn cả chữ trung lẫn chữ hiếu. Nhưng đáng tiếc thay Trọng Thủy lại lỡ đánh rơi mất chữ tình. Trái với Mị Châu, Trọng Thủy để cái đầu lạnh làm nguội trái tim mình. Những hành động đầy toan tính của y giúp y tạo nên cái bẫy đưa cha con Mị Châu vào bi kịch mất nước nhưng từ thủ phạm hắn biến thành nạn nhân của chính mình trong tấn bi kịch tình yêu.
An Dương Vương mất nước từ sự thiếu cảnh giác, khinh địch của mình. Bản thân vua mong mỏi sự hòa bình giữa hai quốc gia, chấm dứt cảnh chiến tranh loạn lạc từ tình yêu con trẻ. Nhưng trớ trêu thay điều đó lại tạo nên khe hở cho những toan tính của cha con Triệu Đà len lỏi vào. Bản thân An Dương Vương cũng phải gánh chịu bi kịch khi phải tuốt gươm trừng phạt kẻ phản bội là chính con gái yêu của mình. Nhà vua đứng trên quyền lợi quốc gia mà gạt bỏ tình riêng, hành động ấy rất được nhân dân coi trọng qua cách xử lí của dân gian: Rùa vàng rẽ nước cho vua xuống biển. Mị Châu phải trả giá cho sự nông nổi của mình nhưng nàng cũng kịp thức tỉnh để nhận ra bi kịch đau đớn. Một người con gái ngây thơ trong trắng đáng yêu bị phản bội, cuối cùng đã nhận ra kẻ thù dù đã quá muộn màng. Cái nhìn nhân hậu của nhân dân ta đã dành cho Mị Châu khi đã để nàng hóa thành ngọc thạch, máu hóa thành ngọc trai ở biển đông. Mị Châu thật đáng trách nhưng cũng thật đáng thương. Truyền thuyết không chỉ kể lại trang sử mất nước mà còn chứa đựng cả cái nhìn thương cảm cho lứa đôi - khi tình yêu phải đối mặt với âm mưu.
Trọng Thủy đã phải trả giá cho sự lừa dối khi hắn chỉ còn mang được xác Mị Châu về chôn cất. Với kẻ cướp nước, nhân dân ta không để cho hắn chiếm đoạt và tiếp tục lừa phỉnh Mị Châu. Nhưng điều đáng nói ở đây là cái chết lao đầu xuống giếng của Trọng Thủy và kết thúc câu chuyện: Người đời sau mò được ngọc trai ở biển Đông lấy nước giếng mà rửa thì thấy trong sáng thêm. Sự lừa dối của Trọng Thủy là lời cảnh tỉnh người đời: Chỉ có tình yêu chân thành mới được đền đáp xứng đáng, tình yêu không bao giờ đồng hành với những âm mưu toan tính thấp hèn, với tham vọng cướp nước.
Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy muôn đời vẫn còn giá trị từ ý nghĩa nhân văn, từ bài học cảnh giác đến lời nhắc nhở về cách giải quyết cái chung và cái riêng, việc nước và việc nhà. Truyền thuyết ấy như ta vẫn biết chứa đựng bài học mất nước sâu sắc, bài học mất nước là chính và không ai có thể phủ nhận, nhưng chỉ nhắc đến bi kịch mất nước thôi là chưa đủ mà còn ẩn sâu bi kịch tình yêu còn nhiều tranh cãi...
 

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây