TỎ LÒNG -Phạm Ngũ Lão-

Thứ sáu - 25/09/2020 12:26
qua bài thơ "tỏ lòng" của phạm ngũ lão, thanh niên ngày nay cần có lí tưởng sống như thế nào?, Biện pháp nghệ thuật trong bài tỏ lòng, Hoành sóc'' có nghĩa là gì, Ban văn Phạm Ngũ Lão, Nghệ thuật bài to lòng, Soạn TO lòng Facebook, Thuật hoài ra đời trong hoàn cảnh nào, Cảm nhận bài thơ to lòng
ngữ văn 10
ngữ văn 10
qua bài thơ "tỏ lòng" của phạm ngũ lão, thanh niên ngày nay cần có lí tưởng sống như thế nào?, Biện pháp nghệ thuật trong bài tỏ lòng, Hoành sóc'' có nghĩa là gì, Ban văn Phạm Ngũ Lão, Nghệ thuật bài to lòng, Soạn TO lòng Facebook, Thuật hoài ra đời trong hoàn cảnh nào, Cảm nhận bài thơ to lòng

Đề 1. Vẻ đẹp sức mạnh con người đời Trần và hoài bão khát vọng chí làm trai qua bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão.

DÀN Ý CHI TIẾT
Phạm Ngũ Lão là một danh tướng đời Trần, nổi tiếng văn võ toàn tài. Ông là cánh tay đắc lực giúp cho Hưng đạo đại vương biết bao nhiêu trận thắng cùng những chiến công lẫy lừng bảo vệ tổ quốc bình yên độc lập, dẹp yên lũ cướp nước. Tuy nhiên chúng ta không chỉ biết đến ông với tư cách là một vị danh tướng mà còn biết đến ông với tư cách là một nhà thơ. Nhắc đến ông là ta nhớ ngay đến bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) - một bài thơ thể hiện rõ nỗi lòng của ông cũng như chủ nghĩa anh hùng yêu nước, khí thế của quân dân nhà Trần.
Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu,
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu.
Nam nhi vị liễu công danh trải,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.
Dịch thơ:
(Múa giáo non sông trải mấy thu,
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu.
Công danh nam tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu)
Triều đại nhà Trần (1226 -1400) là một triều đại lẫy lừng với bao chiến công vinh quang, mấy lần quét sạch quân xâm lược Nguyên - Mông hung tàn ra khỏi bờ cõi, giữ vững sơn hà xã tắc, nêu cao truyền thống bất khuất của dân tộc Đại Việt. Phạm Ngũ Lão sáng tác bài Tỏ lòng trong bối cảnh đặc biệt có một không hai của lịch sử nước nhà, đó là vào cuối năm 1284, khi cuộc kháng chiến lần thứ hai đã đến rất gần. Bài thơ này là một tác phẩm nổi tiếng, được lưu truyền rộng rãi vì nó bày tỏ khát vọng mãnh liệt của tuổi trẻ trong xã hội phong kiến đương thời, khắc họa nổi bật vẻ đẹp của một con người có sức mạnh, có lí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại.
Bài thơ có nhan đề chữ Hán là Thuật hoài: Thuật là kể lại, là bày tỏ; hoài là nỗi lòng. Tên bài thơ dịch thành Tỏ lòng, nghĩa là bày tỏ khát vọng, hoài bão trong lòng. Bài thơ chỉ ngắn gọn theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, niêm luật chặt chẽ, ý tứ hàm súc, hình tượng kì vĩ, âm điệu hào hùng. Chủ thể trữ tình ở đây là vị danh tướng trẻ tuổi đang chỉ huy quân đội làm nhiệm vụ gìn giữ non sông.
Ở  hai câu thơ đầu, tác giả bày tộ niềm tự hào to lớn về quân đội của triều đình; khắc họa vẻ đẹp hiên ngang, lẫm liệt, tràn đầy sức sống của những chiến binh quả cảm:
Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu
Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu.
(Múa giáo non sông trải mấy thu,
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)
Cầm ngang ngọn giáo (hoành sóc) là một tư thế chiến đấu vô cùng hiên ngang, dũng mãnh, luôn ở tư thế tấn công áp đảo quân thù. Câu thơ mở đầu thể hiện vẻ đẹp của người anh hùng thời đại với tầm vóc, tư thế, hành động lớn lao, kì vĩ. Câu thơ nguyên tác dựng lên hình ảnh người cầm ngang ngọn giáo mà trấn giữ đất nước. Con người ấy có một tư thế hiên ngang, mang tầm vóc vũ trụ, át cả không gian bao la. Đó là con người của thời đại, mang hào khí Đông A: tự tin, hùng dũng, kiên cường. Bản dịch thơ chưa thật chính xác, khi dịch là múa giáo (có bản dịch là cắp giáo) khiến cho câu thơ mất đi khí thế hùng dũng hiên ngang của người tráng sĩ. Cây giáo ấy như phải đo bằng chiều ngang của non sông, như át cả không gian bao la.
Không gian được nhắc đến là không gian của giang sơn vô cùng kỳ vĩ, mở ra theo chiều rộng của non sông. Không gian thì rộng lớn, lại thêm thời gian kháp kỉ thu là thời gian dài ròng rã, một thời gian kỳ vĩ biểu hiện quyết tâm bảo vệ đất nước. Hình ảnh con người thời Trần hiện lên đẹp hơn bao giờ hết: Tư thế hiên ngang của những con người chính nghĩa lồng lộng trong không gian rộng lớn là giang sơn đất nước suốt một thời gian dài. Có thể nói đây là hình tượng chủ đạo, tượng trưng cho dân tộc Đại Việt quật cường, không một kẻ thù nào khuất phục được. Từ hình tượng ấy, ánh hào quang của chủ nghĩa yêu nước ngời ngời tỏa sáng. Lời thơ giản dị mà cảm xúc, hình ảnh chân thực mà hoành tráng, biểu hiện tư thế hiên ngang, ý chí bảo vệ Tổ quốc của nhân vật trữ tình - người trực tiếp chiến đấu. Câu thơ mở đầu hừng hực khí thế, bày tỏ niềm vui vào sức mạnh chính mình. Con người xuất hiện với tư thế hiên ngang, kiên cường bất khuất, chiến đấu trong suốt bề dài lịch sử. Tư thế ấy mang tầm vóc vũ trụ lớn lao sánh cùng trời đất, nó cũng là tư thế của cả dân tộc, của thời đại nhà Trần. Qua đó ca ngợi vẻ đẹp của người con trai thời Trần: cao cả, hào hùng, tự nguyện chiến đấu chống giặc cứu nước.
Từ câu thơ thứ nhất đến câu thơ thứ hai là một sự vận động không ngừng của quân đội nhà Trần. Nếu trong câu thơ đầu người đọc cảm nhận được vẻ đẹp của người lính thì ở câu thứ hai này khí thế dũng mãnh của quân đội (ba quân) đã trở thành sức mạnh của dân tộc.
Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu.
(Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)
Ba quân hiểu theo nghĩa hẹp là quân đội nhà Trần, hiểu theo nghĩa rộng là sức mạnh của toàn dân và đất nước. Tương tự cụm từ khí thôn Ngưu cũng có thể hiểu là khí thế hùng mạnh của ba quân như hổ báo có thể nuốt trôi cả trâu hoặc khí thế hào hùng của quân đội xông lên đến tận trời làm át, làm mờ cả sao Ngưu. Dù hiểu theo cách nào chăng nữa thì nghệ thuật so sánh đã cho thấy sức mạnh phi thường, vô địch của quân đội nhà Trần. Câu thơ miêu tả khí thế tiến công mạnh mẽ, phản ánh hào khí của thời đại. Thủ pháp so sánh phóng đại vừa cụ thể hóa sức mạnh vật chất của đội quân mang hào khí Đông A vừa khái quát hoá sức mạnh tinh thần của toàn dân tộc. Sức mạnh này sẵn sàng đón đợi để đè bẹp mọi cuộc tấn công của quân địch. Hình ảnh con người và thời đại nhà Trần đã lồng vào nhau. Câu thơ gây ấn tượng mạnh mẽ bởi sự kết hợp giữa hình ảnh khách quan và chủ quan, giữa hiện thực và lãng mạn.
Hai câu thơ với hai hình ảnh bổ sung vẻ đẹp cho nhau: hình ảnh người tráng sĩ lồng vào hình ảnh toàn dân tộc với tầm vóc vũ trụ, đậm chất hào khí Đông A. Hai câu tứ tuyệt chỉ mười bốn chữ ngắn gọn, cô đúc nhưng đã tạc vào thời gian một bức tượng đài tuyệt đẹp về người lính quả cảm với khí thế dũng mãnh, sẵn sàng xả thân giết giặc cứu nước của đạo quân Sát Thát nổi tiếng đời Trần. Đó là một hình ảnh đẹp, hoành tráng và giàu tính sử thi. Chỉ bằng hai câu thơ, tác giả đã thể hiện niềm tự hào về lịch sử và những chiến thắng vẻ vang của dân tộc.
Hai câu thơ đầu đã vẽ nên hình ảnh kiên cường, hào khí ngất trời của hình tượng người chiến sĩ bảo vệ non sông đất nước thì hai tiếp theo lại là tiếng lòng của tác giả. Hai câu thơ sau âm hưởng khác hẳn hai câu thơ trước. Cảm xúc hào sảng ban đầu dần chuyển sang trữ tình, sâu lắng, như lời mình nói với mình:
Nam nhi vị liễu công danh trải,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.
(Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu)
Quan niệm lập công danh đã trở thành lí tưởng của đấng làm trai thời phong kiến. Công danh và sự nghiệp được coi là món nợ đời phải trả của người đàn ông; nghĩa là phải lập công, giương danh, để lại sự nghiệp tiếng thơm cho đời, cho dân, cho nước. Chí làm trai có tác dụng cổ vũ con người từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ, cá nhân, sẵn sàng hi sinh, chiến đấu cho sự nghiệp cứu nước….Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, chí làm trai trở thành lí tưởng tích cực có tác dụng to lớn đối với con người và xã hội.
Có thể thấy quan niệm công danh, quan niệm tích cực của người xưa, thời phong kiến qua một số bài thơ khác như:
Làm trai đứng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông.
(Chí nam nhi, Nguyễn Công Trứ)
Hoặc :
Làm trai cho đáng nên trai
Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài yên.
                                            (Ca dao)
Đây là một quan niệm tích cực, phổ biến nhưng người xưa mong muốn lập công (để lại sự nghiệp) và lập danh (để lại tiếng thơm) thì Phạm Ngũ Lão với hoài bão giúp nước, giúp dân lại tự cho là nghĩa vụ, trách nhiệm thiêng liêng. Như vậy quan niệm của ông trở nên tiến bộ, tích cực hơn. Vương nợ ở đây có nghĩa là chưa trả xong nợ công danh, chưa hoàn thành nghĩa vụ với đời, với dân với nước. Nỗi thẹn mà bài thơ nói đến là nỗi thẹn vì chưa trả xong nợ nước. Phạm Ngũ Lão suy nghĩ rất cụ thể và thiết thực: một ngày còn bóng quân thù là nợ công danh của tuổi trẻ với giang sơn xã tắc vẫn còn vương, chưa trả hết. Mà như vậy tức là phận sự với vua, với nước chưa tròn, nợ công danh chưa trả xong. Chính vì thế, tác giả tự thấy thẹn khi nghe dân gian kể về chuyện Vũ Hầu - Gia Cát Lượng vì thấy rằng mình chưa có tài mưu lược lớn, chưa giúp dân nhiều và chưa trả xong nợ nước. Đây là nỗi thẹn của con người có nhân cách. Nỗi thẹn này không làm thấp bé mà trái lại, nó nâng cao tầm vóc con người. Tác giả tự thấy hổ thẹn trước tấm gương tài - đức lớn lao ấy vì chưa trả được nợ công danh cho nước, cho đời. Hai câu thơ đã thể hiện ý thức trách nhiệm cao đối với đất nước, là nỗi hổ thẹn đầy khiêm tốn và cao cả, có ý nghĩa tích cực, làm nên nhân cách con người Phạm Ngũ Lão: Cái tâm ngời sáng. Đồng thời cũng bộc lộ khát vọng muốn cống hiến, đóng góp nhiều hơn nữa cho đất nước, cho dân tộc.
Thuật hoài được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đầy hàm súc. Giọng thơ hùng tráng, mạnh mẽ, bút pháp nghệ thuật hoành tráng mang tính sử thi với hình tượng lớn lao kì vĩ, giàu biểu cảm. Thuật hoài là bài thơ trữ tình bày tỏ được hùng tâm tráng khí và hoài bão lớn lao của tuổi trẻ đương thời. Bài thơ có tác dụng giáo dục sâu sắc về nhân sinh quan và lối sống tích cực đối với thanh niên mọi thời đại. Từ quan niệm của tác giả, chúng ta thấy rằng tuổi trẻ sống phải có ước mơ, hoài bão và biết mơ ước những điều lớn lao, phải nỗ lực hết mình và không ngừng để thực hiện hoài bão và hoàn thiện bản thân. Bên cạnh đó, sống cống hiến và gắn khát vọng lợi ích của bản thân với lợi ích của tổ quốc, nhân dân.
Bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) đã khắc họa bức chân dung hào hùng, hiên ngang của người tráng sĩ đồng thời là chân dung tinh thần của thời đại nhà Trần, có sức mạnh lí tưởng rực ngời hào khí Đông A. Bên cạnh đó, bài thơ còn cho thấy vẻ đẹp nhân cách, tấm lòng vì dân vì nước của Phạm Ngũ Lão.

Đề 2: Vẻ đẹp Hào khí Đông A trong bài Tỏ lòng (Phạm Ngũ Lão)

  Trong lịch sử nước nhà, thời đại nhà Trần là một trong những thời đại lịch sử phát triển nhất. Không thể phủ nhận những thành tựu mà quân dân nhà Trần làm cho đất nước trên tất cả các lĩnh vực văn hóa, chính trị, quân sự, kinh tế hay tôn giáo…Nhắc đến nhà Trần là nhắc đến hào khí Đông A. Đặc biệt hào khí ấy không chỉ được nhắc đến trong lịch sử mà nó còn được nhắc đến qua bài thơ Tỏ lòng của vị tướng quân tài ba Phạm Ngũ Lão. Đồng thời qua bài thơ này, nhà thơ cũng muốn thể hiện nỗi “thẹn” của mình.
   Vậy hào khí Đông A là gì?. Thông thường người ta hay biết đến hào khí Đông A nhưng lại chưa thực sự hiểu ý nghĩa của nó. Hào khí Đông A có hai cách hiểu. Cách hiểu thứ nhất là đây là triết tự của nhà Trần, chữ Đông và chữ A ghép lại để chỉ thời đại nhà Trần. Tuy nhiên nó còn một ý nghĩa sâu xa hơn, như chúng ta đã biết nhà Trần là một thời đại hợp lòng nhất từ trên xuống dưới, từ quân đến dân, từ nhà vua đến dân chúng. Hào khí Đông A thể hiện rõ ý chí trăm lòng như một của vua dân nhà Trần. Với ý chí quyết tâm không khuất phục, họ đồng lòng đồng thuận với nhau trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Và họ đã làm nên chiến thắng ba lần với giặc Nguyên Mông.
   Bài thơ Thuật hoài thể hiện rõ hào khí Đông A thời Trần. Hai câu thơ đầu là tiêu biểu cho sự thể hiện đó:

“Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu
Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”
“Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”


“hoành sóc giang sơn” có nghĩa là cầm ngang ngọn giáo để trấn giữ đất nước. Thời nhà Trần phải chống lại kẻ thù nguy hiểm nhất, mạnh nhất thời bấy giờ. Giặc Nguyên Mông bấy giờ hung hãn và dã man nhất, vó ngựa của chúng đi tới thảo nguyên nào thì thảo nguyên đó không còn một ngọn cỏ. Sức càn quét và xâm chiếm của chúng khiến cho nhiều nước khác phải kinh sợ. Thế nhưng đất nước ta phải đối mặt với những tên giặc nguy hiểm này thì quân dân nhà Trần không hề sợ sệt. Trên dưới một lòng bảo vệ đất nước giang sơn. Ngọn giáo giống như quốc bảo của người quân tử thời Trần, nó được đo bởi chiều rộng và chiều cao của đất nước. Sứ mệnh của quân dân nhà Trần là bảo vệ đất nước, từ bấy lâu nay vẫn thế há gì gặp giặc ngoại xâm nguy hiểm nhất lại phải chùn bước.
    Câu thơ thể hiện ý chí quyết tâm chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước và người quân tử thời Trần tự ý thức được trách nhiệm của mình với đất nước. Chính bởi đồng lòng cho nên ba quân của nhà Trần mạnh mẽ như hổ báo, khí thế át cả sao Ngưu trên trời. Khí thế ấy tưởng chừng có thể nuốt hết một con trâu lớn. Hai câu thơ thể hiện sự hào hùng, bất khuất của quân đội nhà Trần. Đó chính là sự thể hiện của hào khí Đông A.
    Nếu hai câu thơ đầu, nhà thơ thể hiện hào khí Đông A của một thời đại đầy hào hùng thì đến hai câu thơ cuối nhà thơ bày tỏ nỗi “thẹn” của mình:

“Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”
“Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”

     Xưa kia, sinh thời phận làm trai thì phải có công danh và sự nghiệp. Một người nam nhi chân chính là phải có danh với núi sông, có công với đất nước. Chỉ có như thế mới xứng đáng là phận nam tri đầu đội trời chân đạp đất. Cái nợ công danh của nhà thơ vẫn còn trong khi ông đã từng đánh nam dẹp bắc, chặn biết bao nhiêu con đường của giặc đi. Phạm Ngũ Lão – một vị tướng tài ba của nhà Trần thế nhưng ông vẫn khiêm tốn về công danh của mình với vua, với nước. Ông “thẹn” khi nghe chuyện Vũ Hầu bởi vì Vũ Hầu cũng là phận bề tôi như ông. Nhưng Vũ Hầu làm được nhiều việc có công lớn với đất nước với vua hơn. Chính vì thế mà dù Phạm Ngũ Lão tài giỏi và hết lòng vì đất nước nhưng bản thân nhà thơ vẫn không cảm thấy hài lòng với những gì mình đã làm. Theo nhà thơ, có lẽ bấy nhiêu thôi chưa đủ để gọi là công danh với đất nước.

      Qua đây ta có thể thấy rõ được hào khí Đông A thời nhà Trần và nỗi thẹn của người quân tử, người tướng quân hết lòng ra sinh vào tử vì vua vì nước. Có thể nói hào khí Đông A là yếu tố cơ bản làm nên ba lần chiến thắng giặc nguyên Mông. Đồng thời ta có thể thấy được tấm lòng của vị tướng quân tài ba với đất nước mình. Dẫu có bao nhiêu chiến công hiển hách, Phạm ngũ Lão vẫn thấy chưa đủ để phục vụ cho vua và cho đất nước.

Đề 3: Phạm Ngũ Lão (Đọc thêm)

Trong giai đoạn từ khoảng nửa cuối thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20, rất nhiều thiện đàn cầu tiên được mở ra ở nhiều địa phương trên cả nước. Trong số các vị thánh thần thường xuyên giáng thơ tại các thiện đàn này có ngài Phạm Ngũ Lão. Điều này chứng tỏ ngài là một bậc linh thiêng và vẫn đầy ắp tâm sự vì nước thương nòi như thuở bình sinh.
Việc ái quốc dùi mài trong dạ,
Chữ trung trinh vàng đá ghi lòng.
Cõi Nam bang quyết chí xoay vòng,
Trong cảnh thổ há dung quân tàm thực!
(Kinh Đạo Nam)
Phạm Ngũ Lão (1254-1320) là tướng nhà Trần trong lịch sử Việt nam. Ngài là người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, Hải Dương. Theo sách Tông phả kỷ yếu tân biên của Phạm Côn Sơn dẫn gia phả họ Phạm thì ngài là cháu 8 đời của tướng Phạm Hạp thời nhà Đinh.
Phù Ủng xưa thuộc tổng Huệ Lai, huyện Thiên Thi, trấn Sơn Nam Thượng (nay thuộc huyện Ân Thi, Hưng Yên) là vùng quê có từ lâu đời với một truyền thống văn hoá dày dặn. Ân Thi còn là quê hương của các văn nhân nổi tiếng: Nguyễn Trung Ngạn là đại thần của năm triều vua, Hàn lâm Trực học sĩ Nguyễn Khắc Trạch giữ chức Toản tu Quốc Tử Giám và để lại cho đời hàng ngàn bài thơ, văn.
Phạm Đình Hổ trong Vũ Trung Tùy Bút có kể lại chuyện Ngài ra mắt Hưng Đạo Đại Vương, đại ý như sau:
Hưng Đạo Vương cùng tuỳ tùng đi ngang qua Đường Hào thấy ngài ngồi bên vệ đường đang đan sọt. Quân lính kéo đến, dẹp lối đi. Ngài vẫn ngồi thản nhiên, như không để ý đến ai cả. Quân lính cầm giáo đâm vào đùi chảy máu mà ngài vẫn không nhúc nhích, thấy vậy Vương dừng lại hỏi, bấy giờ ngài mới trả lời rằng đang nghĩ một câu trong binh thư nên không để ý. Biết người có tài, Hưng Đạo Đại Vương cho ngài ngồi cùng kiệu đưa về kinh sư. Từ đó ngài trở thành môn khách của Hưng Đạo Đại Vương.
Trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Nguyên (1285-1288), ngài lập được nhiều chiến công. Năm 1285, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai, ngài cùng với Trần Quang Khải tiến đánh Chương Dương, Hàm Tử, đập tan đội binh thuyền khổng lồ của giặc và diệt quân Nguyên chiếm đóng Thăng Long. Sau đó, ngài được lệnh mang 3 vạn quân phục kích đánh địch ở Vạn Kiếp, chặn đường địch rút chạy lên biên giới phía bắc và diệt được hai phó tướng địch là Lý Quán và Lý Hằng.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba, ngài cùng các tướng bày trận phục kích đường rút lui của giặc trên sông Bạch Đằng, trong trận này quân nhà Trần bắt sống các tướng giặc Phàn Tiếp, Áo Lỗ Xích, Ô Mã Nhi. Ngài tiếp tục truy kích cánh quân của Thoát Hoan trên đường bộ.
Ngài đã bốn lần cất quân đi trừng phạt sự xâm chiếm, quấy nhiễu của quân Ai Lao, hai lần Nam chinh đánh thắng quân Chiêm Thành, buộc vua Chiêm là Chế Chí phải xin hàng.
Ngài được Hưng Đạo Đại Vương gả con gái (giả làm con gái nuôi của Hưng Đạo Đại Vương vì nhà Trần có quy định chỉ gả con gái trong dòng tộc) là quận chúa Anh Nguyên.
Năm 1290, vua Trần Nhân Tông giao cho ngài cai quản quân Thánh Dực, phong chức Hữu Kim ngô Đại tướng quân. Đến đời vua Trần Anh Tông, ngài được thăng tới chức Điện súy Thượng tướng quân, tước Quan nội hầu.
Ngài không chỉ có tài về quân sự, mà còn để lại nhiều bài thơ về chí trai, lòng yêu nước. Hiện nay tác phẩm của ngài chỉ còn lại hai bài là Thuật hoài (Tỏ Lòng) và Vãn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương (Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương).
Ngày 1 tháng 11 năm 1320, ngài mất, hưởng thọ 66 tuổi. Vua Trần Minh Tông nghỉ chầu 5 ngày. Đây là một đặc ân ở triều Trần.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng:
Ngũ Lão xuất thân trong hàng quân ngũ nhưng rất thích đọc sách, sống phóng khoáng, có chí lớn thích ngâm thơ, xem qua có vẻ như không để ý đến việc võ bị nhưng quân do ông chỉ huy thực là đội quân trên dưới như cha con, hễ đánh là thắng. 
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói:
Tôi từng thấy các danh tướng nhà Trần như Hưng Đạo vương thì học vấn tỏ ra bài hịch, Phạm Điện Súy thì học vấn biểu hiện ở câu thơ, chứ không phải chỉ chuyên về nghề võ, thế mà dùng binh thì tinh diệu, hễ đánh là thắng, đã tấn công là chiếm được, người xưa cũng không một ai vượt nổi các ông. Lê Phụ Trần thì dũng lược đứng đầu ba quân, một mình một ngựa xông pha trong trận giặc, tuỳ cơ ứng biến, chống đỡ cho chúa trong lúc gian nguy, mà tài văn học của ông đủ để dạy bảo thái tử. Đủ biết, nhà Trần dùng người, vốn căn cứ vào tài năng của họ để trao trách nhiệm….(Theo, Bách khoa toàn thư mở wikipedia)
Trong sách Lịch triều hiến chương loại chí, mục Tướng có danh tiếng và tài giỏi, phần về đời Trần, sử gia Phan Huy Chú chỉ chọn ra 4 vị tướng tài, trong đó xếp ngài tề danh cùng Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Trần Nhật Duật và Trần Khánh Dư.
Tại xã Phù Ủng có đền thờ ngài, do nhân dân dựng ngay trên nền nhà cũ của ngài. Ngài cũng được phối thờ tại đền Kiếp Bạc, Chí Linh, Hải Dương tại đền thờ Hưng Đạo Đại Vương. Đặc biệt, hàng năm, nhân dân xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, còn tổ chức lễ hội (từ 11 đến 14 tháng giêng, ngày chính là 11) để tưởng niệm ngày đầu tiên ngài ra quân đánh giặc.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây