TAM ĐẠI CON GÀ, NHƯNG NÓ PHẢI BẰNG HAI MÀY

Thứ sáu - 25/09/2020 12:11
Nhưng nó phải bằng hai mày, Tam đại con gà là truyện gì, Truyện Tam đại con gà, Tam đại con gà ngắn nhất, Kịch bản Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày Tam đại con gà nâng cao, Số đồ tự duy bài Tam đại con gà, Soạn văn 10 bài: Tam đại con gà Giáo án
ngữ văn 10
ngữ văn 10
Nhưng nó phải bằng hai mày, Tam đại con gà là truyện gì, Truyện Tam đại con gà, Tam đại con gà ngắn nhất, Kịch bản Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày Tam đại con gà nâng cao, Số đồ tự duy bài Tam đại con gà, Soạn văn 10 bài: Tam đại con gà Giáo án

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRUYỆN CƯỜI

1.Truyện cười

- Khái niệm: Tác phẩm tự sự dân gian có dung lượng ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những việc xấu, trái tự nhiên trong cuộc sống, có tác dụng gây cười, nhằm mục đích giải trí, phê phán.
- Phân loại:
+ Truyện khôi hài: nhằm mục đích giải trí.
+ Truyện trào phúng: nhằm mục đích phê phán.

2. Tác phẩm

- Thuộc thể loại truyện cười trào phúng.

II. LUYỆN ĐỀ

ĐỀ 1. Phân tích truyện cười Tam đại con gà để thấy được tiếng cười trào phúng của dân gian về thói dốt mà giấu dốt của một số người.

DÀN Ý CHI TIẾT
Từ xưa cha ông ta đã sáng tác ra những câu truyện cười, truyện ngụ ngôn mang tính chất giải trí và đồng thời cũng để phê phán chê bai một số loại người trong xã hội. Đó thường là những câu truyện dân gian ngắn có kết cấu chặt chẽ kết thúc bất ngờ kể về những sự việc hành vi tự nhiên của con người. Thầy đồ là nhân vật vô cùng quen thuộc vì nước ta có truyền thống tôn sư trọng đạo, những người làm thầy thường được kính trọng rất mực và nhắc tới rất nhiều. Song cũng có lúc tiếng cười dân gian không thể kìm chế được nên đã bật ra tiếng cười giễu cợt những thói hư tật xấu của các thầy đồ. Trong số đó truyện cười Tam đại con gà là một câu truyện khá phổ biến hướng đến sự châm biếm đả kích vào những kẻ xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ. Cái xấu cái đốt càng che đậy càng dễ lộ ra, kệch cỡm và đáng cười hơn rất nhiều lần.
Nhân vật chính trong truyện Tam đại con gà là một anh học trò dài lưng tốn vải ăn no lại nằm, dốt đặc cán mai mà lại dám làm thầy đồ. Anh ta học hành dốt nát nhưng lại có tính khoe khoang đi đâu cũng ra vẻ cũng lên mặt văn hay chữ tốt. Nhưng vì không biết được bộ mặt thật của anh ta mà có nhiều người tưởng anh ta là hay chữ là học rộng tài cao mới mời anh ta về làm thầy dạy dỗ bọn trẻ. Và từ đó những câu chuyện bi hài liên tiếp xảy ra thể hiện tài năng kém cỏi của ông thầy. Ngoài nhân vật thầy đồ, các nhân vật khác chỉ làm nền cho nhân vật chính hoạt động. Điểm độc đáo của truyện là tác giả dân gian tạo ra tình huống đặc biệt để nhân vật thầy đồ tự bộc lộ trình độ của mình. Thông thường, cái dốt do thất học được mọi người dễ dàng thông cảm; còn cái dốt của học trò thì chỉ đáng chê trách, chứ không đáng cười. Người xưa nói:Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe, nhưng anh học trò này đã dốt lại đi đâu cũng lên mặt ra vẻ ta đây tài giỏi. Cả gan hơn, anh ta dám làm nghề gõ đầu trẻ, mà nghề này muốn dạy một thì phải biết mười. Thói xấu ấy của anh ta không dừng ở lời nói, mà đã thành hành động.
Bi kịch bắt đầu từ việc nhận biết mặt chữ cho thấy trình độ của thầy đồ. Giờ dạy học, thầy gặp chữ nghĩa là nhưng thầy không nhận ra vì nó có nhiều nét rắc rối, gần giống với chữ tướcchim sẻ. Học trò lại hỏi gấp, thầy cuống lên đành nói liều: Dủ dỉ là con dù dì. Các tác giả dân gian cố tình để thầy bẽ mặt với chữ kê. Tuy có nhiều nét nhưng chữ này không khó. Sách Tam tự kinh dùng cho trẻ học vỡ lòng chữ Hán, phần giải nghĩa rõ ràng, lại có vần vè rất dễ thuộc, vậy mà thầy mù tịt. Ta thấy thầy đồ ở đây dốt tận cùng của cái dốt, không những không hiểu biết gì về kiến thức căn bản trong sách vở mà thầy còn dốt ở cả những kiến thức đơn giản căn bản trong xã hội. Nhân vật này hiện lên ngay từ những câu đầu tiên là một anh chàng dốt nát đến cực độ nhưng cái dốt trong anh luôn được giấu kín và khi đi dạy trẻ cái dốt ấy lại được thể hiện rõ nét.
Chưa dừng lại đó, khi học trò hồn nhiên hỏi gấp, vô tình dồn thầy vào chỗ bí. Thầy đồ chẳng giữ được thể diện của mình trước đám học trò nếu không trả lời được. Đọc chữ thành dủ dỉ, rồi giảng bậy dủ dỉ là con dù dì quả là thầy đã đi đến chỗ tận cùng liều lĩnh và tận cùng của sự dốt nát thảm hại. Dủ dỉ đâu phải chữ Hán? Và trên đời làm gì có con vật nào tên là dủ dỉ, dù dì? Như vậy là thầy vừa dốt kiến thức sách vở, lại vừa dốt kiến thức thực tế. Người đọc đọc đến đây phải bật cười ngạc nhiên trước trình độ của ông thầy kì quặc này.
Tình huống thứ hai là thầy cũng khôn, sợ nhớ sai, người nào biết thì xấu hổ, mới bảo học trò đọc khẽ. Thầy liều lĩnh khi dạy trẻ nhưng lại thận trọng trong việc giấu dốt, dùng cái láu cá vặt để gỡ và giấu nhẹm cái dốt của mình. Đây là sự giấu dốt mà ta đáng chê trách đáng phê bình. Không những là dốt mà cái đang chú ý ở đây là giấu dốt và lại làm việc đó trước sự ngây thơ của con trẻ. Tạm thời, sự láu cá ấy cứu được thầy nhưng thực ra nó càng đẩy nhanh thầy vào ngõ cụt.
Liền sau đó, tình huống khiến cho người đọc phải bật ra tiếng cười là khi thầy cúng hỏi Thổ công xem mình đoán chữ ấy có đúng không. Đây giống như một tình huống gây cười và trào phúng châm biếm nhất, thầy đồ nhờ tới thần linh xem kiến thức của mình ra sao. Lẽ ra, không biết thì thầy phải tìm sách mà học, tìm người mà hỏi. Nhưng truyện không có cái lẽ ra ấy. Tình huống hỏi Thổ công này làm cho mâu thuẫn phát triển lên tới đỉnh điểm, vì nó là cách hỏi ngược đời trái tự nhiên và xưa nay chưa từng có. Chi tiết thầy xin ba đài âm dương để hỏi về chữ dủ dỉ dù dì là một sáng tạo của tác giả dân gian. Với nghệ thuật sáng tạo này tác giả dân gian đã đẩy câu chuyện lên một bước phát triển cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Nhân vật Thổ Công xuất hiện khiến cho ý nghĩa phê phán và nghệ thuật trào phúng của truyện càng sinh động, sâu sắc. Ở đây tác giả dân gian cũng không nói thẳng ra vấn đề mà để nhân vật tự bộc lộ dần đó là cái dốt, cái kênh kiệu đáng chê bai phê phán. Như một mũi tên bắn trúng hai đích, truyện gộp cả Thổ Công vào với thầy mà chế giễu. Té ra thần thánh tưởng là thiêng liêng mà cũng dốt. Nhưng tiếng cười chưa dừng ở đó, thấy Thổ công đồng ý cách giải thích của mình, thế là thầy đồ vững bụng, không sợ nữa mà đắc chí lắm. Khi đã an tâm, thầy cho học trò đọc lớn lên, càng thấy buồn cười, bởi lẽ học trò thì không biết thầy sai mà thầy cũng không biết mình sai nên dốt lại càng dốt. Trò vâng lời thầy, gân cổ lên gào: Dủ dỉ là con dù dì! Dủ dỉ là con dù dì. Với chi tiết ấy, cái dốt của thầy đã được khuếch đại lên gấp nhiều lần.
Tình huống thứ tư nằm ở phần kết thúc truyện. Khi thầy đồ bộc lộ đến tận cùng sự ngoan cố của thói giấu dốt thì cũng là lúc tiếng cười bật lên. Sự tin tưởng mù quáng vào thần thánh đã đưa thầy đến cuộc chạm trán bất ngờ với chủ nhà. Chủ nhà thấy thầy dậy cái gì mà lạ quá cho nên mới đến xem sự tình. Cái dốt nát của thầy đã bị lật tẩy. Lúc này, thầy đã tự nhận thức được sự dốt nát của mình và thầm trách Thổ Công: Mình đã dốt, Thổ Công nhà nó cũng dốt nữa. Biết được cái sai của mình, nhưng bản tính vụng chèo khéo chống, thầy không những không nhận mà còn tìm cách chối cãi và ngụy biện cho cái dốt của mình. Cái sai đã rành rành ra đấy nhưng thầy vẫn còn cố giải oan cho mình bằng cách giải nghĩa thật luẩn quẩn và buồn cười: Dủ dỉ là con dù dì, dù dì là chị con công, con công là ông con gà. Cách chống chế của thầy nhằm mục đích giấu dốt và thầy vẫn ra vẻ ta đây hay chữ, trái ngược với sự tự nhận thức về mình lúc trước. Chính sự trái ngược này đã tạo ra tiếng cười trào phúng hả hê.
Ta thấy cái dốt của người học trò thì không đáng cười mà đáng cười ở đây là đã dốt lại còn ra vẻ sĩ diện hão huyền cái giấu dốt mới là cái dáng cười. Trong toàn bộ câu chuyện, cái dốt của thầy đồ bị lộ dần ra khi lâm vào các tình huống khó xử nhưng thầy đã cố che giấu một cách phi lí. Nhưng thầy càng lấp liếm thì càng trở nên thảm hại vì ai cũng biết rằng đó chi là lí sự cùn chứ không phải là một cách chống chế thông minh có thể chấp nhận được. Như vậy, mâu thuẫn trái tự nhiên ở đây là mâu thuẫn giữa cái dốt và sự giấu dốt. Thầy càng ra sức che đậy thì bản chất dốt nát càng phơi bày và thầy tự biến mình thành trò cười cho thiên hạ.
Với óc sáng tạo của nhân dân ta, kết hợp với những hành động những chi tiết đời thường đã tạo cho truyện những tình huống gây cười đặc sắc. Hành động và chi tiết không tới nỗi quá kịch tích nhưng lại dễ dàng đi vào lòng người bởi lối ẩn dụ nhẹ nhàng và mang lại tiếng cười trào phúng cho độc giả. Ở đây, ta thấy có sự tăng tiến về mức độ phi lí trong hành động và lời nói của thầy đồ. Đó cũng là một thủ pháp nghệ thuật được sử dụng phổ biến trong truyện cười dân gian.
Tam đại con gà là truyện cười ngắn gọn xoay quanh một chữ nhưng đã vẽ ra được chân dung thảm hại của nhân vật thầy đồ dốt nát cũng là một phần nhỏ trong thời xưa. Đó là một con người dốt lòi nhưng lại hay chối quanh và tài ngụy biện và luôn cố tìm cách giấu dốt bằng thói ba hoa. Qua đó nhân dân muốn phê phán, chê bai một tật xấu là những người không chịu học hỏi mà lúc nào cũng tự cho ta đây là tài giỏi mặc dù không biết gì.Câu chuyện phê phán cao những kẻ dấu dốt không dũng cảm đối diện với cái dốt để mình tốt hơn. Chi tiết nhẹ nhàng đơn giản nhưng lại khiến cho chúng ta có một cái nhìn sâu sắc về những nét tính cách và thói hư tật xấu của một bộ phận nhỏ người trong xã hội xưa. Từ đó truyện nhắn nhủ mọi người phải luôn học hỏi, không nên che giấu cái dốt của mình, khiêm tốn, trung thực trong cuộc sống và học tập.

ĐỀ 2: Phân tích truyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày để thấy được tiếng cười phê phán của nhân dân lao động.

DÀN Ý CHI TIẾT
Kho tàng truyện cười Việt Nam cực kì phong phú về đề tài, được chia làm hai loại là truyện khôi hài và truyện trào phúng. Truyện khôi hài chủ yếu nhằm mục đích giải trí là chính, tuy vậy nó vẫn có ý nghĩa giáo dục nhẹ nhàng. Truyện trào phúng có mục đích đả kích, phê phán, đối tượng phần lớn là các nhân vật thuộc tầng lớp trên trong xã hội phong kiến xưa kia. Cũng có khá nhiều truyện cười phê phán thói hư tật xấu thường thấy trong cuộc sống. Nhưng nó phải bàng hai mày là truyện cười rất ngắn thuộc loại trào phúng, phê phán đám quan lại tham nhũng. So với nhiều truyện cười khác truyện này ít tình tiết hơn, nó như một màn kịch rất ngắn nhưng hấp dẫn với sự xuất hiện của ba nhân vật. Mỗi chi tiết đều cần khai thác triệt để.
Mở đầu truyện là lời giới thiệu về một viên lí trưởng nổi tiếng xử kiện giỏi ở làng kia. Ta gặp cách giới thiệu mang tính chất phiếm chỉ trong truyện cười nói chung về nhân vật (viên lí trưởng), địa điểm (làng kia), thời gian (một hôm nọ). Giống như ở truyện cổ tích, tính phiếm chỉ trong truyện cười giúp tăng cường tính khái quát, ý nghĩa mà truyện phản ánh mang tính phổ biến ở nhiều vùng, nhiều đối tượng chứ không chỉ ở địa phương nào. Tên Cải, Ngô cũng là một cách nói thực chất không mang tính xác định.
Sự việc được kể rất ngắn gọn: Cải với Ngô đánh nhau, rồi mang nhau đi kiện. Cải sợ kém thế, lót trước cho thầy lí năm đồng. Ngô biện chè lá những mười đồng. Tuy vậy, truyện được xây dựng thành một màn hài kịch hoàn hảo với hai yếu tố then chốt dẫn tới sự hình thành và phát triển mâu thuẫn. Đó là lí trưởng nổi tiếng xử kiện giỏi và hai đương sự Ngô, Cải, ai cũng muốn giành phần thắng nên đều đút lót cho lí trưởng. Diễn biến tình tiết đã lộ ra tình huống có vấn đề, buộc người nghe phải chú ý xem trong tình huống này thì một thầy lí vốn nổi tiếng xử kiện giỏi sẽ xử vụ kiện này thế nào. Chính từ việc giới thiệu đây là thầy lý giỏi xử kiện ở ngay đầu truyện đã gợi nên sự độc đáo, hấp dẫn, gợi sự tò mò cho người đọc.
Và khi lên chốn công đường, cách xử kiện của thầy lí cực kỳ nhanh gọn, không điều tra phân tích, vội kết án Thằng Cải đánh thằng Ngô đau hơn, phạt mười roi. Mâu thuẫn bắt đẩu phát sinh khi lí trưởng đột ngột tuyên án. Vì đã lo lót thầy trước và được thầy nhận lễ, nên Cải bị bất ngờ, lâm vào tình thế bị động trước lời phán xét của thầy lí. Sự bất ngờ ấy thể hiện ở việc Cải vội xòe năm ngón tay, ngẩng mặt nhìn thầy lí khẽ bẩm: Xin xét lại, lẽ phải về con mà!. Lời nói của Cải chứng tỏ Cải tin mình sẽ được xử thắng vì theo Cải, lẽ phải được xem xét bằng tiền. Cải đã đưa ra một ám hiệu là năm ngón tay, cái nhìn và lời nhắc khẽ để nhắc nhở thầy lí về hành động biện lễ của mình. Đến đây mâu thuẫn tăng đến cao trào bởi Cải đã dường như muốn lật bài ngửa. Nếu như vậy thì thầy lí sẽ xử sự ra sao?
Thật bất ngờ, đáp lại hành động kì quặc của Cải là hành động cũng kì quặc của thầy lí. Sự kết hợp giữa lời nói và động tác của hai nhân vật tạo nên một tín hiệu đặc biệt, một thứ mật ngữ. Lời được phát ngôn công khai cho tất cả mọi người cùng nghe. Mật ngữ (động tác xòe tay) thì chỉ hai người trong cuộc biết rõ ý tại ngôn ngoại. Hành động kì quặc đó được giải mã bởi lời nói của thầy lí kèm theo hành động: Thầy lí cũng xòe năm ngón tay trái úp lên trên năm ngón tay mặt, nói: Tao biết mày phải… nhưng nó lại phải… bằng hai mày!. Lẽ phải (trừu tượng) được tính bằng năm ngón tay (cụ thể), hai lần lẽ phải được tính bằng mười ngón tay. Điều thú vị mà tác giả dân gian dành cho người đọc là: ngón tay của Cải trở thành kí hiệu của tiền tệ và hai bàn tay úp vào nhau của quân cũng là kí hiệu biểu thị cho lượng tiền đút lót của Ngô.
Giữa ngón tay - tiền - lẽ phải có mối liên hệ mật thiết. Ngón tay thể hiện số lượng tiền, tiền để đo lẽ phải. Theo cái lí của thầy lí thì lẽ phải là tiền, được đo bằng tiền. Lí trưởng là người đại diện cho những kẻ có quyền thế, cầm cân nảy mực, người đứng đầu trông coi việc hành chính trong làng. Viên lí trưởng trong truyện nổi tiếng xử kiện giỏi. Song cái tiếng tăm ấy lại hoàn toàn đối lập với thực chất bên trong. Ngô và Cải đều phải lo đút lót trước cho lí trưởng. Sự công bằng, lẽ phải - trái, không có ý nghĩa gì ở chốn công đường khi lí trưởng xử kiện. Lẽ phải ở đây thuộc về kẻ nhiều tiền, nhiều lễ vật lo lót. Tiền quyết định lẽ phải, tiền nhiều thì lẽ phải nhiều, tiền ít thì lẽ phải ít. Đồng tiền đã ngự trị chốn công đường, bất chấp công lí. Giá trị tố cáo của truyện cười chính là ở chỗ đó. Trong xã hội mà mọi thứ được đo bằng tiền thì thử hỏi công lí tồn tại ở đâu?.
Truyện còn dùng hình thức chơi chữ để gây cười. Từ phải trong truyện này đa nghĩa. Phải là tính từ chỉ tính chất thì ở đây lại được khéo léo chuyển nghĩa sang từ chỉ số lượng. Nghĩa thứ nhất chỉ lẽ phải, chỉ cái đúng, người đúng, đối lập với cái sai, người sai. Nghĩa thứ hai chỉ điều bắt buộc, nhất thiết phải có, tức là mức tiền lo lót. Lời lí trưởng: Tao biết mày phải… nhưng nó lại phải… bằng hai mày lập lờ cả hai nghĩa ấy. Không phải ngẫu nhiên, vế thứ hai trong lời thầy lí lại được dùng để đặt tên cho truyện này.
Bằng nghệ thuật chơi chữ như vậy, chỉ trong một lời thoại ngắn, tác giả đã đưa người đọc đi từ trạng thái tưởng là thế này (tưởng phải là lẽ phải) đến hoá ra thế kia (hoá ra phải ở đây lại là mức tiền) trong tích tắc. Lời nói của lí trưởng vừa có cái vô lí, vừa có hợp lí. Vô lí khi đặt nó trong một phiên toà bình thường, hợp lí khi ta đặt nó vào mối quan hệ thực tế giữa các nhân vật. Ở đây lí trưởng nói bằng mối quan hệ thực tế đó, tức là cái lí thực bên trong đã thay thế cho nhau và thay cho pháp lí - lẽ công bằng. Từ đó người đọc mới bất ngờ vỡ lẽ về bản chất : tư lợi từ việc công một cách hồn nhiên và trắng trợn của lí trưởng. Một nền công lí được thực thi như thế, do những con người như thế nắm giữ. Thật là nực cười. Tiếng cười được bật ra khi quá trình nhận thức kết thúc.
Ở đây, ta thấy ngôn ngữ lời nói và ngôn ngữ động tác thống nhất với nhau, có giá trị ngang nhau. Ngồn ngữ bằng lời nói là ngôn ngữ công khai, nói cho tất cả những người có mặt cùng nghe. Ngôn ngữ bằng động tác là thứ ngôn ngữ bí mật, chỉ có người trong cuộc (thầy lí và Cải) mới hiểu được. Hai thứ ngôn ngữ ấy làm rõ nghĩa cho nhau để chỉ ra thực chất của sự nổi tiếng xử kiện giỏi của viên lí trưởng nọ.
Đúng là: Nén bạc đâm toạc tờ giấy. Cải, Ngô là các nhân vật bi hài, vừa đáng trách, đáng cười, vừa đáng thương. Hai người tuy là nạn nhân nhưng lại là những kẻ tiếp tay cho việc làm đổi thay công lí, nhập nhằng đen trắng bằng việc đút lót cửa sau. Lí trưởng là đối tượng bị đả kích, phê phán. Truyện đặc sắc bởi cách tạo tình huống hấp dẫn, lối chơi chữ độc đáo, xây dựng được những cử chỉ và hành động gây cười như trong kịch câm, mang nhiều ý nghĩa, kết hợp lời nói và cử chỉ gây cười, giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ cử chỉ.
Nhưng nó phải bằng hai mày là một truyện cười rất ngắn, kết thúc bất ngờ khi tính cách nhân vật lí trưởng được giấu kín, chỉ bộc lộ ở cuối truyện, tăng tính bất ngờ. Tuy ngắn nhưng nó nói đủ những điều muốn nói. Đó là sự vạch trần bản chất tham nhũng của hàng ngũ quan lại xưa. Đồng thời Thể hiện thái độ vừa thương, vừa trách của dân gian đối với những người lao động như Cải và Ngô. Sự kết hợp giữa hành động và ngôn ngữ nhân vật, lối chơi chữ tạo nên tiếng cười vừa giòn giã, thâm thúy.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây