SỬ THI ĐĂM SĂN

Thứ sáu - 25/09/2020 02:38
Dọc sử thi Đăm Săn, Sử thi Đăm Săn PDF, Chuyện đề sử thi Đăm Săn, Nguồn gốc sử thi Đăm Săn, Tóm tắt sử thi Đăm Săn ngắn gọn, Sử thi Đăm Săn lớp 10, Nội dung sử thi Đăm Săn, Chiến thắng Mtao Mxây
ngữ văn 10
ngữ văn 10
Dọc sử thi Đăm Săn, Sử thi Đăm Săn PDF, Chuyện đề sử thi Đăm Săn, Nguồn gốc sử thi Đăm Săn, Tóm tắt sử thi Đăm Săn ngắn gọn, Sử thi Đăm Săn lớp 10, Nội dung sử thi Đăm Săn, Chiến thắng Mtao Mxây

  I. KHÁI QUÁT VỀ SỬ THI.

  1. Khái niệm sử thi:

- Sử thi còn gọi là anh hùng ca, bài ca anh hùng, trường ca. Đây là thể loại tác phẩm tự sự dài (thường là thơ) xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học các dân tộc nhằm ngợi ca những sự nghiệp anh hùng có tính toàn dân và có ý nghĩa trong đại đối với dân tộc trong buổi bình minh lịch sử.

- Đặc trưng của sử thi là:

* Ra đời và phản ánh thời kì ấu thơ của dân tộc- tộc người. Thể hiện những bức tranh xã hội rộng lớn cùng với những sự kiện lịch sử trọng đại.
* Biểu dương chiến tích của những anh hùng dũng cảm, có phẩm chất tốt đẹp, đại diện cho lợi ích cộng đồng. Thế giới sử thi là thế giới  đặc biệt trong đó con người và thần linh giao tiếp với nhau thật dễ dàng; hình ảnh thế giới hiện ra còn như môt tổng thể toàn vẹn và hài hoà- điều đó phản ánh xã hội con người ở các dân tộc- tộc người còn chưa bị phân hoá, cá nhân còn gắn bó với cộng đồng.
 * Có ngôn ngữ trang trọng, ngợi ca, gọi chung là phong cách cao cả. Nghe hát – kể sử thi là một sinh hoạt văn hoá  tập thể và mọi giá trị của sử thi, do đó, là thành tựu chung của cả cộng đồng.
Sử thi là một câu chuyện kể lại có đầu có đuôi với quy mô lớn, vì theo Hê ghen “nội dung và hình thức của nó thực sự là toàn bộ các quan niệm, toàn bộ thế giới và cuộc sống của một dân tộc được trình bày dưới một hình thức khách quan của một biến cố thực tại”.
- Nhân vật  chính trung tâm của sử thi là nhân vật anh hùng: Anh hùng văn hóa và anh hùng chiến trận -các anh hùng dũng sĩ tiêu biểu cho sức mạnh thể chất và tinh thần, cho ý chí và trí thông minh. Lòng dũng cảm của cộng đồng được miêu tả khá tỉ mỉ, đầy đủ từ cách ăn mặc, trang bị, đi đứng đến những tận giao chiến với kẻ thù, những chiến công lừng lẫy và đôi khi cả những nét trong sinh hoạt đời thường của họ nữa, điều đáng chú ý là tất cả những cái này đều được miêu tả trong vẻ đẹp kì diệu khác thường.
- Nguyên nhân: sử thi ra đời vào thời điểm nối tiếp thần thoại tức là từ thế giới của các vị thần bắt đầu chuyển sang thế giới của con người--> cái nhìn đậm màu sắc thần kì. Mác từng nhấn mạnh rằng vẻ đẹp của sử thi thể hiện trong tính hài hoà đặc biệt của nó vốn có liên quan đến các quan hệ xã hội chưa chín muồi lắm. Mác cho rằng sử thi trong hình thức cổ điển của nó đã tạo nên một thời đại trong lịch sử văn hoá.
- Trong sử thi chủ yếu miêu tả hành động của nhân vật  hơn là những rung động tâm hồn.
- Những tác phẩm tiêu biểu như Iliat và Ôđixê của Hy Lạp, Mahabaharata và Ramayana của Ấn Độ…. Bên cạnh những tác phẩm  sử thi đồ sộ nói trên, các dân tộc khác cũng có những tác phẩm  sử thi ngắn gọn hơn dưới dạng những bài ca tráng sĩ hay dũng sĩ, nhưng không kém phần nổi tiếng như Bài ca chàng Rô lăng của Pháp, Ilia Murometx của Nga và Nibelnghen  của Đức…
Về sau những đặc trưng của sử thi dần dần biến đổi và được tiểu thuyết hiện đại tiếp nhận để hình thành một thể loại mới là “tiểu thuyết sử thi” như Chiến tranh và hoà bình của Lép Tônxtôi…

- Phân loại sử thi:

* Sử thi thần thoại: Đẻ đất đẻ nước (Mường), Ẩm ệt luông (Thái), Cây nêu thần (Mơ nông)…
* Sử thi anh hùng: Đam San, Đam Di, Xinh Nhã, Khinh Dú (Ê Đê), Đam Noi (Ba na)…- Vùng sử thi Tây Nguyên: Trong lúc sử thi ở nhiều nước là rời rạc, lẻ tẻ thì ở Việt Nam, nó lại quần tụ thành vùng, tiêu biểu là ở Tây Nguyên. Người ta gọi là vùng sử thi Tây Nguyên.
-  Sử thi Tây Nguyên, mà mỗi tộc người gọi tên khác nhau: khan (Ê Đê), hơ ri (Gia rai), hơ mon (Ba na), Ốt nơ rông ( Mơ nông).. trở thành một đặc trưng thể loại tiêu biểu cho vùng văn hoá  Tây Nguyên. Vùng sử thi Tây Nguyên có căn nguyên từ kinh tế- xã hội Tây Nguyên như: xã hội tiền giai cấp, kinh tế nương rẫy…
Sử thi anh hùng Tây Nguyên có 3 đề tài chính: hôn nhân, chiến tranh và lao động xây dựng. Đề tài chiến tranh quan trọng hơn cả, là đề tài trung tâm của sử thi anh hùng và thu hút các sự kiện thuộc 2 loại đề tài kia. 

* Sử thi Đăm Săn

là một trong những thiên sử thi anh hùng nổi tiếng của dân tộc Ê Đê (Việt Nam).
- Tên đầy đủ là Bài ca chàng Đam San (tiếng Ê Dê là Klei khan Y Đam San).
- Sử thi Đam San lần đầu tiên được L.Sabatier (một viên công sứ người Pháp tại Tây Nguyên) phát hiện vào năm 1923-1924. Sabatier đã dịch sử thi này ra tiếng Pháp và xuất bản ở Paris năm 1928. Năm 1959, sử thi này được giới thiệu trên tạp chí Văn nghệ quân đội và được nhà xuất bản Văn hoá  in song ngữ Việt – Ê Đê (bản dịch của Đào Tử Chí) với tên gọi là Bài ca chàng Đam San. Năm 1988, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã công bố văn bản sưu tầm và dịch sử thi Đam San rất công phu của Nguyễn  Hữu Thấu.
- Sử thi Đam San có 7 chương khúc tóm tắt như sau:
1- Chị em Hơ Nhí và Hơ Bhí theo luật tục chuê- nuê, đòi lấy Đam San làm chồng, Đam San không chịu.
2- Đam San bỏ về nhà chị là Hơ Aâng, Trời làm anh chết đi sống lại nhiều lần và anh tự thân cứu được Hơ Nhí anh chịu thành hôn với hai người.
3- Tù trưởng Mtao Grư (tù trưởng Ó) cướp Hơ Nhí. Đam San đánh lại, giành được vợ, bắt làm tù binh.
4. Đam San đi phát rẫy, dọn ruộng, Mtao Mxây (tù trưởng Sắt) lại cứơp vợ anh, anh giết được kẻ thù, thành một tù trưởng giàu mạnh.
5. Đam San chặt cây thần. Cây đổ, hai chị em Hơ Nhí và Hơ Bhí chết, Đam San lên trời toan chém đầu trời, được Trời bày phép làm cho vợ sống lại.
6. Đam San đi bắt Nữ thần Mặt Trời về làm vợ, bị từ chối. Anh chết chìm trong rừng đất nhão.
7. Vía của Đam San hoá thành con ruồi, bay vào miệng Hơ Aâng, Hơ Âng thụ thai sinh được một con trai, cũng đặt tên là Đam San. Đó là Đam San cháu gọi  Đam San đã mất là cậu. Đam San cháu tiếp tục nối dây với chị em Hơ Nhí và Hơ Bhí
- Thiên sử thi miêu tả những chiến công oanh liệt và khát vọng tự do của một tù trưởng trẻ tuổi tài năng lỗi lạc tên là Đam San. Theo một tập tục hôn nhân cổ- tập tục “nối dây” (tục chuê nuê), thì Đam Sam buộc phải lấy hai chị em Hơ Nhí và  Hơ Bhí, khi chàng đã có người yêu. Đam San được hưởng gia tài của vợ. Đam San lại đánh thắng nhiều tù trưởng thù địch khác, cướp được nhiều của cải, súc vật, bắt được nhiều nô lệ và trở thành một tù trưởng giàu mạnh nhất vùng. Nhưng Đam San còn được muốn giàu mạnh hơn nữa: chàng cưỡi ngựa lên trời định bắt nữ thần Mặt trời về làm vợ. Do hành động ngông cuồng này, Đam San cả người lẫn ngựa bị lún xuống bùn, chết ngập trong rừng Sáp đen. Hồn Đam San đầu thai vào người chị ruột của mình để rồi lại tiếp tục làm chồng dòng họ Hơ Nhí. Đam Sam là một nhân vật  anh hùng thuộc kiểu anh hùng thời thị tộc- bộ lạc. Những hành động và chiến công của Đam San trong thiên anh hùng ca dân gian này xoay quanh 2 chủ đề chính.

Thứ nhất là chủ đề đấu tranh để thoát khỏi những ràng buộc của một tập tục hôn nhân theo chế độ mẫu quyền (tục chuê-nuê).

- Ở chủ đề này, cuộc đấu tranh của Đam San được miêu tả với nhiều mâu thuẩn phức tạp. Theo tập tục “nối dây” còn tồn tại khá rõ trong xã hội người Ê Đê thời cổ, cuộc hôn nhân giữa Đam San với Hơ Nhí và Hơ Bhí đã được định sẵn từ trước.
- Khi Hơ Nhí còn nhỏ, bà của Hơ Nhí chết, Hơ Nhí phải thay bà lấy ông. Ông Hơ Nhí đã nói với Hơ Nhí rằng sau này, Hơ Nhí sẽ lấy Đam San. Mở đầu thiên sử thi là cảnh bên nhà gái đến nhà Đam San hỏi chồng cho Hơ Nhí, Hơ Bhí. Đam San cưỡng lại, song trời đã “chống gậy hèo” đến thu xếp việc cưới hỏi. Đam San phải khuất phục trước sức mạnh của tập tục.
- Song từ khi về nhà vợ, chàng vẫn  tiếp tục có những hành động chống đối lại cuôc hôn nhân ấy. Chàng trễ nải công việc nhà vợ, không chăm sóc vợ và bỏ về nhà chị ruột. Hành động tiêu biểu và có tính chất tượng trưng nhất cho sự chống đối này là việc Đam San đốn cây thần Smuk, một thứ cây thần, cây “linh hồn, cây tổ tiên”, cây “sinh ra Hơ Nhí, Hơ Bhí” đã hai lần chết. Nhưng những hành động chống đối của Đam San đã không dẫn đến kết quả phá vỡ cuộc hôn nhân ấy.
Một mặt, bởi vì sức mạnh của tập tục còn quá lớn. Một mặt cuộc hôn nhân ấy cũng đồng thời đem lại cho chàng những quyền lợi và một địa vị mong muốn: chàng được hưởng gia tài của vợ và trở thành một tù trưởng giàu có, hùng mạnh “chân không phải đi xuống đất”, “có nhiều voi, nhiều tôi tớ”. Hơn nữa, ở chàng cũng bộc lộ những tình cảm gắn bó với những người vợ xinh đẹp, đáng yêu. Khi vợ chết vì những hành động của chính chàng, chàng đã khóc “từ sáng đến tối, từ tối đến sáng” thương tiếc “người mà thần linh cho chàng” để chàng có người “nấu cơm, sắm thức ăn, dệt khố áo”. Chàng đã tha thiết xin thần linh cho chàng phép làm vợ sống lại, vì như chàng nói: “Tôi là lá đa, tôi quyến luyến với cây đa”. Những tình tiết đó của thiên sử thi cho thấy rõ tính chất phức tạp, đầy mâu thuẫn của cuộc đấu tranh chống tập tục “nối dây” của Đam San, chứng tỏ Đam San vẫn chưa thoát khỏi sự ràng buộc của chế độ mẫu quyền. Đáng chú ý là đoạn kết của thiên sử thi với hiện tượng “Đam San cháu” (con trai Hơ Aâng- chị ruột Đam San ) giống hệt “ Đam San cậu” và với cảnh anh em họ hàng Hơ Nhí đến nhà “Đam San cháu” hỏi chồng cho Hơ Nhí, lặp lại gần giống như cảnh mở đầu của thiên sử thi. Đoạn kết này rất tiêu biểu về mặt phản ánh sức mạnh của tập tục và những mâu thuẩn trong tư tưởng của tác giả dân gian khi miêu tả cuộc đấu tranh của Đam San để thoát khỏi những ràng buộc của chế độ mẫu quyền, nhằm vươn tới một cuộc sống tự do phóng khoáng, và khẳng định vai trò của người đàn ông trong xã hội cũ.

Chủ đề thứ hai của thiên sử thi là đấu tranh chống những tù trưởng thù địch để bảo vệ cuộc sống và mở rộng địa bàn cư trú của bộ tộc. 

- Ở chủ đề này, thiên sử thi đã miêu tả những chiến công oanh liệt của Đam San trong hai trận đánh thắng hai tù trưởng mạnh tên là Mơtao Grư (tù trưởng Ó) và Mơ tao Mxây (tù trưởng Sắt). Hai tù trưởng này gây ra cuộc chiến tranh nhằm tranh giành ảnh hưởng với Đam San, cướp vợ và bắt gia đình, bộ tộc Đam San phải lệ thuộc vào mình. - - Do thắng được hai tù trưởng, bộ tôc của Đam San đã trở nên giàu mạnh hơn bao giờ hết: “Trong nhà người ta đi lại chen chúc nhau, vai sát vai, vú sát vú, trong lòng ai cũng hoan hỉ vì có người tù trưởng thật oai hùng có không biết cơ man nào là chiêng đồng, là voi nhà, là rừng núi, đã từng đánh thắng không biết bao nhiêu là địch. Oai linh vang đến tận các thần núi từ phía Đông cho tới phía Tây”.
Nhưng Đam San vẫn  chưa vừa lòng với những chiến công lừng lẫy của mình. Chàng đã có một ý muốn vượt tầm thời đại là tìm đường lên trời, chiếm lấy nữ thần Mặt trời về làm vợ. Chàng đã chết vì ý muốn ấy.
-  Cái chết của Đam San phần nào mang ý nghĩa  bi kịch vì cái chết ấy mâu thuẩn giữa khát vọng vô bờ với khả năng hữu hạn của người anh hùng.
- Thiên anh hùng ca Đam San đã phản ánh những nét hiện thực xã hội tiêu biểu của dân tộc Ê Đê trong một thời kì lịch sử mà các quan hệ thị tộc –bộ lạc và tàn dư của chế độ mẫu quyền còn đang phổ biến.
- Đam San đại diện cho một lực lượng mới đang lên, khi chế độ phụ quyền đang dần thay thế cho chế độ mẫu quyền nhưng chưa hoàn toàn chiếm được ưu thế.
- Đồng thời cũng là hình ảnh lí tưởng của nhân dân về một người tù trưởng có khả năng chiến đấu bảo vệ và mở rộng địa bàn cư trú của bộ tộc. Người anh hùng ấy cùng với các sự kiện trong đời sống lịch sử xã hội ấy của dân tộc đã được miêu tả với nhiều nét phóng đại tượng trưng và giàu màu sắc thần thoại.
- Đây là một tác phẩm  thuộc thể loại sử thi anh hùng ca dân gian. Người Ê Đê gọi sử thi này là khan, có nghĩa là một thể loại truyện kể bằng văn vần có xen lẫn kể xuôi, khi diễn xướng có sử dụng hình thức đối đáp và đôi khi kèm theo điệu bộ. Thể loại này cũng thấy phổ biến trong một số dân tộc khác ở Tây Nguyên như dân tộc Gia-rai (tiếng dân tộc gọi là akhan), Ba-na (tiếng dân tộc gọi hơmon ), dân tộc Cadong (tiếng dân tộc gọi là hơmuôn)…
- Về trích đoạn “Đam San đi bắt Nữ thần Mặt trời”.
Đây là đoạn trích thể hiện rõ nhất 2 chủ đề của sử thi Đam San và nêu bật được phẩm chất anh hùng của người anh hùng sử thi: anh hùng Đam San. Đi bắt con gái thần Mặt trời về làm vợ, Đam San muốn vươn đến khát vọng cao nhất: khẳng định vị thế của người đàn ông trong hạnh phúc hôn nhân, uy danh cùng của cải cho bản thân và cộng đồng, một điều kiện sống lí tưởng cho con người với thiên nhiên dịu hoà, tươi tốt. Đam San thành biểu tượng cho lòng dũng cảm, ý chí vươn lên không ngừng của các dân tộc Tây Nguyên.
* Khi phân tích người anh hùng sử thi- khan,  cần biết những đặc điểm thẩm mỹ của người anh hùng sử thi - khan là:
1.Người anh hùng trước hết phải đẹp và lịch sự
2.Người anh hùng tài giỏi, khoẻ mạnh nhiều mặt
3.Người anh hùng có đức tính cơ bản là dũng cảm
4. Người anh hùng phải bách chiến bách thắng
5. Người anh hùng trên tất cả phải giàu có và sang trọng 
- Về trích đoạn “Chiến thắng Mtao Mxây”.Như ta đã biết, trong đề tài chiến tranh ở sử thi thì người  anh hùng sử thi chiến đấu với các tù trưởng thù địch, trước hết là vì những mục đích riêng: để đòi nợ (như sử thi Đam Thi), để trả thù cho người thân (như sử thi Xinh Nhã), để giành lại vợ bị tù trưởng buôn làng khác cướp đoạt (như sử thi Đam San).. đồng thời cũng là để bảo vệ cuộc sống yên lành của buôn làng. Khi chiến thắng buôn làng của người  anh hùng trở nên giàu có, cường thịnh hơn lên. Do vậy, chiến công và sự nghiệp anh hùng của nhân vật trung tâm trong sử thi là niềm tự hào, là lí tưởng xã hội của toàn thể cộng đồng.Các tình tiết chính của đoạn trích đã có dịp đề cập ở trên (từ tình tiết 1 đến 15).
Để phân tích đoạn trích, cần làm rõ vai trò của từng nhân vật chính:
+ Nhân vật Mtao Mxây là nhân vật đối thủ, nguyên nhân gây chiến tranh.
+ Nhân vật Đam San là nhân vật trung tâm, quyết định cho sự diễn biến của cốt truyện, lôi cuốn các nhân vật quần chúng.
+ Nhân vật Oâng Trời và Hơ Nhị là nhân vật trợ thủ cho Đam San. Ông trời là nhân vật trợ thủ thần kì. Hơ Nhị là người trao vật thần kì (miếng trầu) cho ĐAM San. Thể hiện quan niệm về cuộc chiến tranh chính nghĩa.
+ Nhân vật quần chúng vừa đóng vai trò hậu thuẫn cho nhân vật chính, vừa bị lôi cuốn bởi sức mạnh và mục đích của cuộc chiến đấu của nhân vật chính. Sức mạnh và lí tưởng của cá nhân người  anh hùng biểu trưng cho sức mạnh và lí tưởng của cộng đồng.  

*Sử thi Đẻ đất, đẻ nước (trích)

- Đẻ đất đẻ nước (dài 4.629 câu, gồm 26 rằng (chương, khúc) là một sử thi thần thoại, bao quát những vấn đề cơ bản  thường thấy ở các thần thoại suy nguyên. Màu sắc thần thoại xuyên thấm toàn bộ tác phẩm, từ cách nhìn thế giới đến hệ đề tài và trí tưởng tượng thơ ca. Tác phẩm  này xứng dáng được coi  là hiện tượng đặc biệt của sử thi cổ đại phương Đông và thế giới. 
Trích đoạn “Đẻ nước” thuộc rằng thứ ba trong 26 rằng của tác phẩm  Đẻ đất , đẻ nước. Rằng Đẻ nước diễn tả nội dung: Trời lại nắng hạn, mặt đất nứt nẻ, xác xơ, suối cạn, đồi khô “khô cằn khô cỗi”. Nắng “chín tháng”, “mười hai năm” nung gãy sừng hươu và nứt vỡ cả mai ba ba. Ông Pồng Pêu (thần Nước) ngồi đan lưới đan chài ở bên cửa sổ khi đó “trông ra ngoài ngõ, trông lên trên trời” mà thương xót trần gian, ông Pồng Pêu cầu mưa. Một cuộc đẻ nước diễn ra: “Mưa dầm dề chín đêm mười bữa sáng, Mưa rào rào chín bữa sáng mười đêm. Mưa từ chân trời này, Mưa sang chân trời nọ”. Trận đại hồng thuỷ ấy “Bốn tháng nước rút, Bảy tháng nước xuôi”. Chúng ta đã biết, trước  cuộc đẻ nước là vũ trụ hỗn mang và cuộc đẻ đất, sau cuộc đẻ nước là các cuôïc đẻ cây si thần, đẻ mường , đẻ người…
- Khái niệm “đẻ” ghép với các sự vật hiện tượng như đất và nước chứa đựng một quan niệm đầy vẻ nguyên sơ, thô dã. Người Mường cổ, cũng như các dân tộc cổ khác, đều cho rằng mọi sự vật, hiện tượng, cũng như con người đều do một cái gì đó chửa đẻ mà thành. Con người sinh con đẻ cái, còn những “ông thần kia, bà thần nọ” thì đẻ ra cả vũ trụ mênh mông, cả quả đất khổng lồ và cả vạn vật. Con người biết ơn các vị thần linh. Tựa đề “đẻ nước” về mặt tư tưởng còn bộc lộ môt triết lí duy vật của con người thời thái cổ.   
                

II. Luyện đề:

Đề 1: Vẻ đẹp của người anh hùng sử thi qua sử thi Đăm Săn

GỢI Ý
Mở bài: Sử thi anh hùng là những áng văn tự sự (văn xuôi hoặc văn vần) có qui mô hoành tráng ,miêu tả và ca ngợi những người anh hùng dũng cảm, có phẩm chất tốt đẹp, tài trí hơn người,lập được nhiều chiến công hiển hách,biết hi sinh lợi ích cá nhân để bảo vệ cho cộng đồng. Để hiểu rõ thêm về thể loại sử thi bây giờ chúng ta sẽ cùng tìm hiểu cụ thể về vẻ đẹp của nó.
Thân bài:- Trong sử thi anh hùng, nhân vật anh hùng đại diện cho toàn thể cộng đồng về mọi phương diện.Nội dung ấy khiến cho hình tượng người anh hùng sử thi có ý nghĩa biểu tượng cao hơn.
- Nhân vật anh hùng là những nhân vật trung tâm của tác phẩm sử thi.Vẻ đẹp ấy trước hết toát ra ở ngoại hình.Nhân vật anh hùng sử thi thường có tầm vóc đẹp, có kích thước lớn lao hơn chính bản thân nó. Đặc điểm ngoại hình nổi bật nhất của nggười anh hùng sử thi là nó mang vẻ đẹp tạo hình theo quan điểm thẩm mĩ, theo chuẩn mực riêng của cộng đồng.
- Nói đến vẻ đẹp của người anh hùng sử thi phải nói đến vẻ đẹp của phẩm chất, của tài năng phi thường.Vẻ đẹp đầu tiên cần phải nhắc đến của người anh hùng sử thi là lòng dũng cảm, ý chí và nghị lực phi thường .Lòng dũng cảm được coi là phẩm chất đạo đức có tính chất tuyệt đối của người anh hùng sử thi.Bao giờ người anh hùng cũng là những con người có lòng chiến đấu dũng cảm và ý chí chiến đấu mãnh liệt nhất.
- Một phẩm chất khac cũng không kém phần quan trọng của người anh hùng sử thi là họ luôn mang một lý tưởng cao cả, một khát vọng lớn lao.Nếu lý tưởng của người anh hùng sử thi phương Tây là khát vọng chiến công, lập vinh quang nơi chiến trận thì các anh hùng của sử thi ấn Độ lại mang một lý tưởng thuần khiết hơn:họ hướng về điều thiện,về lẽ phải,về đạo lý ở đời.
- Và nhờ có sức mạnh thể chất phi thường cộnh với sức mạnh tinh thần kì diệu, người anh hùng sử thi luôn lập được nhiều chiến công hiển hách.Chiến công của người anh hùng bao giờ cũng mang ý nghĩa lớn lao,mang quyền lợi, danh dự và hạnh phúc cho bộ tộc cộng đồng.
--> Tóm lại, nhân vật anh hùng luôn hiện diện với tổng hoà các sức mạnh về vật chất lẫn tinh thần.Những vẻ đẹp đó lúc đầu thì siêu phàm, kì vĩ, phi thường nhưng về sau thì bình dị, bình thường và gần gũi. Người anh hùng sử thi luôn được nhìn nhận, đánh giá, ngợi ca với niềm tôn kính thiêng liêng.
-là người đại diện cho cộng đồng, có vẻ đẹp ngoại hình,có sức mạnh phi thường, tài trí hơn người, lập được nhiều chiến công hiển hách, biết căm ghét kẻ hung ác, bênh vực người yếu đuối và biết hi sinh để bảovệ hạnh phúc cho cộng đồng.
- Sử thi Tây Nguyên (Việt Nam) thường ca ngợi người anh hùng chiến đấu để bảo vệ cuộc sống yên lành cho buôn làng.Khi chiến thắng,buôn làng của người anh hùng trở nên giàu có,cường thịnh hơn. Đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây” nói về người anh hùng Đăm săn chân thật, đơn giản,có lúc ngông cuồng, có thể coi là người anh hùng chiến trận.Cuộc đối đầu giữa Đăm Săn với Mtao Mxay là giữa hai tù trưởng dũng mãnh.
- Phẩm chất anh hùng theo cách nhìn sử thi Tây Nguyên là chiến thắng bằng sức mạnh và sự can đảm.Cuộc đối đầu sinh tử ấy không có chỗ dung thân cho kẻ nào hèn nhát hơn.Trong tình cảm tôn vinh người anh hùng của buôn làng,mọi cử chỉ,ngôn ngữ,hành động của Đăm Săn đều nổi bật ,vượt trội hơn kẻ thù.
- Đam săn chiến đấu không hề đơn độc (miếng trầu tiếp sức, Ông Trời),chính nghĩa luôn thuộc về chàng.
- Đăm Săn chiến thắng Mtao Mxây làm cho buôn làng của mình lại thêm giàu mạnh,càng nâng cao uy tín của mình và tôi tớ, dân làng của tù trưởng thù địch tự nguyện mang theo của cải đi theo Đăm Săn. Đoạn trích đã đem lại cho ta những cách nhìn độc đáo về người anh hùng Đăm Săn trong chiến công bảo vệ buôn làng, đem lại bình yên cho thị tộc.Sử thi Đăm săn quả thật đã hình thành ý thức và tình cảm cộng đồng vững bền giữa các dân tộc Ê-đê,thành di sản quý báu của Tây Nguyên và dân tộc Việt Nam, đánh dấu thời đại sử thi rực rỡ với vẻ đẹp”một đi không trở lại”.
- Những vẻ đẹp của các anh hùng sử thi luôn được làm nổi bật và đậm nét là nhờ vào ngôn ngữ miêu tả của sử thi chỉ có sử thi mới đem lại những vẻ đẹp độc đáo ấy của các anh hùng.Không chỉ có ngôn ngữ mà nhờ vào lời kể chuỵện hấp dẫn,ngôn từ miêu tả khoa trương tạo được dấu ấn sâu sắc,chứa đựng những giá trị nhân văn đặc trưng của sử thi của sử thi cùng với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các biện pháp nghệ thuật:so sánh, phóng đại...

Đề 2: Cảm nhận hình tượng Đăm Săn qua đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây

Gợi ý
DÀN Ý KHÁI QUÁT

  1. Mở Bài

 - Giới thiệu về đoạn trích, nhân vật Đăm Săn.
- Dẫn dắt vào vấn đề cần phân tích.

2. Thân Bài

- Những nét khái quát:
+ Sử thi và người anh hùng sử thi: Sử thi còn gọi là anh hùng ca, là thể loại tự sự dài (thường là thơ) xuất hiện rất sớm trong lịch sử của các dân tộc nhằm ngợi ca sự nghiệp anh hùng có tính toàn dân và có ý nghĩa trọng đại đối với dân tộc trong buổi bình minh của lịch sử. Về kết cấu, sử thi là một câu chuyện được kể lại có đầu có đuôi với quy mô lớn. Các nhân vật chính của sử thi là những anh hùng, tráng sĩ tiêu biểu cho sức mạnh thể chất và tinh thần, cho ý chí và trí thông minh, lòng dũng cảm của cộng đồng được miêu tả trong vẻ đẹp kì diệu khác thường.
+ Vị trí đoạn trích và nội dung chính đoạn trích: Kể về việc Đăm Săn đánh nhau với Mtao Mxây để cứu Hơ Nhị. Qua đoạn trích này vẻ đẹp về sức mạnh và nhân cách của Đăm Săn được bộc lộ rõ nét.
- Phân tích nhân vật người anh hùng Đăm Săn:
+ Vẻ đẹp hào hùng của Đăm Săn khi đến nhà Mtao Mxây.
+ Vẻ đẹp nổi bật khi so sánh với Mtao Mxây và khi Đăm Săn chiến thắng Mtao Mxây.
+ Vẻ đẹp của Đăm săn trong cảnh ăn mừng chiến thắng.

- Nhận xét
+ Vẻ đẹp bên ngoài: Giọng nói, hình dáng, trang phục. Sức mạnh ghê gớm, uy quyền và sự giàu có của một tộc trưởng, sự phồn vinh của một buôn làng (cách tác giả dân gian tả Đăm Săn mang dáng dấp, hình ảnh của một vị thần).
+ Nhân cách và lí tưởng: Đăm Săn là kết tinh của vẻ đẹp, ý chí, khát vọng của cả cộng đồng.
+ Đăm săn là người có sức mạnh phi thường, trọng danh dự, sống và chiến đấu cho lí tưởng một cách quả cảm anh dũng, bảo vệ hạnh phúc gia đình gắn với bảo vệ sự bình yên của thị tộc. Chàng là người anh hùng tiêu biểu được xây dựng dựa trên những thủ pháp nghệ thuật của sử thi và là hiện thân của khát vọng, danh dự, nhân phẩm của bộ tộc.

3. Kết Bài

- Nêu nhận xét, đánh giá về người anh hùng sử thi Đăm săn
- Mở rộng vấn đề bằng cảm nghĩ của cá nhân về những điều mà các em tâm đắc về nhân vật này

DÀN Ý CHI TIẾT

I.Khái quát

- Sử thi còn gọi là anh hùng ca, là thể loại tự sự dài (thường là thơ) xuất hiện rất sớm trong lịch sử của các dân tộc nhằm ngợi ca sự nghiệp anh hùng có tính toàn dân và có ý nghĩa trọng đại đối với dân tộc trong buổi bình minh của lịch sử. Về kết cấu, sử thi là một câu chuyện được kể lại có đầu có đuôi với quy mô lớn. Các nhân vật chính của sử thi là những anh hùng, tráng sĩ tiêu biểu cho sức mạnh thể chất và tinh thần, cho ý chí và trí thông minh, lòng dũng cảm của cộng đồng được miêu tả trong vẻ đẹp kì diệu khác thường.
I-li-át, ô-đi-xê của Hi Lạp ; Ma-ha-bha-ra-ta, Ra-ma-ya-na của Ân Độ ; Đăm Săn, Đăm Di, Xinh Nhã, Khinh Dú (Ê-đê), Đăm Noi (Ba-na) của Việt Nam ; … là những tác phẩm sử thi đồ sộ còn lưu giữ được đến nay.
Sử thi anh hùng Tây Nguyên phản ánh cuộc sống Tây Nguyên ở giai đoạn tiền giai cấp, khi xã hội cộng sản nguyên thuỷ tan rã, nhưng xã hội phong kiến chưa hình thành. Sự phân hoá giàu nghèo trong đời sống xã hội chưa sâu sắc, cá nhân hoàn toàn gắn bó với cộng đồng thị tộc, quyền lợi và khát vọng của mỗi cá nhân hoàn toàn thống nhất với quyền lợi và khát vọng của cộng đồng, ở giai đoạn lịch sử đó, các xung đột vũ trang thường xảy ra giữa các bộ tộc để tranh giành đất đai, của cải và thế lực. Tham gia chiến đấu và quyết tâm chiến thắng vì quyền lợi của cả bộ tộc trở thành nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người. Trong đời sống xã hội, lao động và chinh phục thiên nhiên đem lại phồn vinh cho bộ tộc mỗi thành viên coi đó là bổn phận và tự giác làm hết mình.
Đó là cơ sở lịch sử, xã hội nảy sinh và nuôi dưỡng những thiên sử thi anh hùng! Sô’phận, tính cách anh hùng của nhân vật anh hùng trong sử thi phản ánh số phận và tính cách của chính bộ tộc ấy.
- Nhìn chung, sử thi anh hùng Tây Nguyên có ba đề tài chính là hôn nhân chiến tranh và lao động xây dựng, trong đó, đề tài chiến tranh là đề tài trung tâm, quan trọng hơn hai đề tài kia, thu hút và hàm chứa hai đề tài đó.
Về phương diện nghệ thuật, sử thi anh hùng Tây Nguyên mang những đặc điểm cơ bản của nghệ thuật sử thi nói chung : dung lượng đồ sộ, kết cấu trùng điệp, chia thành chương khúc, ngôn ngữ trang trọng, giàu định ngữ, nhiều hình ảnh so sánh, phóng đại tương phản, tượng trưng,… đó là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú, bay bổng hồn nhiên đậm màu sắc thần thoại- Sử thi anh hùng sử dụng lối văn xuôi có vần và nhịp điệu cân xứng, đầy biến hoá : lúc trầm bổng, du dương, lúc hoành tráng, lúc trữ tình sâu lắng, thiết tha,… phù hợp với đặc điểm diễn xướng được kể -hát theo làn điệu của thể loại này.

II. Phân tích hình tượng Đăn

  1. Vẻ đẹp ngoại hình

Vẻ đẹp chân thật, đơn giản, gắn với kích thước của núi rừng, sông suối, chim muông: Hứng tóc chàng ở dưới đất là một cái nong hoa, đầu đội khăn nhiễu, vai mang nải hoa, ngực quấn chéo một tấm mền chiến, tai đeo nụ, đôi mắt long lanh, bắp chân to bằng cây xà ngang, bắp đùi to bằng ống bễ...

2. Vẻ đẹp phẩm chất, sức mạnh, tài năng, trí tuệ, đức hạnh

  • Sức khoẻ, sức mạnh phi thường, hùng cường ngay khi còn ở trong bụng mẹ: Hơi thở ầm ầm tựa sấm, nằm sấp thì gãy rầm sàn, nằm ngửa thì gãy xà dọc, đánh đâu đập tan đó.
  • Tài năng: Múa khiên đẹp, nhanh và mạnh. Chàng có thể đánh thắng tất cả các tù trưởng khác.
  • Đức hạnh: Yêu vợ, yêu cuộc sống tự do, khát khao đem lại sự bình yên và giàu có cho buôn làng.

a. Trong cuộc chiến giữa Đăm Săn với Mtao Mxây

*. Nguyên nhân chiến tranh

Tù trưởng Mtao Mxây lừa lúc Đăm Săn cùng dân làng làm rẫy, đã kéo đến cướp phá buôn làng và bắt Hơ Nhị về làm vợ. Danh dự của một tù trưởng và bộ tộc bị xúc phạm, hạnh phúc của gia đình và buôn làng bị đe doạ, người anh hùng Đăm Săn buộc phải cầm khiên, giáo đứng lên chiên đấu.
Cuộc chiến đấu của Đăm Săn là cuộc chiên đấu chính nghĩa, vì thế, dân làng theo chàng đi đánh Mtao Mxây. Đăm Săn không chỉ có sức khoẻ, võ nghệ cao cường, có khiên giáo trong tay mà còn có cả chính nghĩa, lí tưởng chiên đấu nên đã được tiếp thêm sức mạnh để quyết chiên quyết thắng.

*Diễn biến trận đánh

Đăm Săn khiêu chiến và thái độ ngạo mạn của Mtao Mxây :
+ Nếu như Mtao Mxây hèn hạ, lừa lúc Đăm Săn và dân làng đi àm rẫy để cướp phá thì Đăm Săn đến tận nhà Mtao Mxây lúc hắn đang ở nhà, gọi hắn xuống để giao chiến. Mtao Mxây là một tù trưởng hung bạo, một tên kẻ cướp ; còn Đăm Săn là tù trưởng anh hùng, tư thế và hành động đàng hoàng. Sự kiện Đăm Săn tới nhà Mtao Mxây khiêu chiến thể hiện sự tương phản trong nhân cách hai nhân vật này.
Chàng gọi Mtao Mxây là “diêng” với hàm ý mỉa mai. (Diêng : chỉ người bạn kết nghĩa). Đăm Săn và Mtao Mxây đã từng là “diêng” của nhau, là bạn kết nghĩa của nhau. Thế mà nay Mtao Mxây đến cướp phá buôn làng của Đăm Săn, cướp vợ của Đăm Săn. Mtao Mxây là kẻ phản bội tình bạn. Vì thế không thể nói chuyện bằng lời mà phải “đọ dao” mới giải quyết được.
+ Lúc đầu, Mtao Mxây từ chối. Là kẻ gây tội ác nên hắn tỏ ra sợ hãi trước lời đe doạ trừng phạt, nhưng vẫn trắng trỢn chọc tức Đăm Săn : “Tay ta đang còn bận ôm vợ hai chúng ta ở trên nhà này cơ mà”.
+ Như lửa đổ thêm dầu, thái độ ngạo mạn của Mtao Mxây khiến Đăm Săn nổi cơn thinh nộ. Lời của Đăm Săn như ra lệnh, quyết liệt hơn lần trước : “Xuống đi, ơ Diêng…”.Thái độ của Đăm Săn rất dứt khoát, dồn kẻ thù vào cuộc giao đấu. Mtao Mxây phải lựa chọn một trong hai con đường : một là chết thiêu cùng với ngôi nhà, hai là bước vào giao đấu.
+ Mtao Mxây tỏ ra rất tầm thường, hắn từ trên sàn nhà xuống với nỗi lo bị đánh lén. Nhưng Đăm Săn đàng hoàng, không thèm đâm “con lợn nái… dướị đất”, không thèm đâm “con trâu… trong chuồng”, chỉ đâm kẻ thù khi chúng đang múa khiên và tay đang cầm giáo, cầm gươm.
+ Mtao Mxây hiện ra với dáng vẻ dữ tợn như một vị ác thần, tay cầm khiên “tròn như đầu cú, gươm hắn óng ánh như cái cầu vồng”, lòng đầy lo sợ, nên “tần ngần do dự, mỗi bước mỗi đắn đo”. Nhưng hắn vẫn phải bước vào cuộc giao đấu.
Hiệp đấu thứ nhất :
+ Vào cuộc giao đấu, Đăm Săn với tinh thần thượng võ, nhường cho địch thủ quyền chủ động tẩn công. Mtao Mxây đùn đây, cất lời huênh hoang để đánh đòn tâm lí với Đăm Săn. Hắn khoe sức mạnh, khỏe miếng võ của hắn là võ gia truyền, học được từ thần thánh, thậm chí còn đem khoe cả bản chất tàn bạo của mình với mục đích uy hiếp Đăm Săn.
Mtao Mxây đánh múa khiên, tỏ ra rất kém cỏi  khiến cho Đăm Săn thấy buồn cười, phải cất tiếng mỉa mai : “Ngươi múa chơi đây phải không, diêng?”.
Trước sức mạnh tấn công của Đăm Săn, hắn chỉ biết chạy, khi tung đòn lại không trúng đích. Kẻ tàn bạo phi nghĩa thật thảm hại khi đối mặt với người anh hùng vượt trội về tài năng và phẩm chất, chiên đâu vì chính nghĩa.
+ Đăm Săn vào trận với tư thế của người anh hùng, với tư cách người đi hỏi tội và trừng phạt kẻ có tội. Chàng chiến đấu để bảo vệ danh dự, cứu vợ và bảo vệ yên bình cho bộ tộc. Sức mạnh của chàng chính là sức mạnh của cộng đồng, được kết tinh từ những khát vọng, ước mong cho cuộc sống bình yên, thịnh vượng. Tác giả dân gian đã thể hiện sức mạnh của dũng sĩ Đăm Săn trong cảm hứng sử thi đẫm chất hùng ca. cảnh Đăm Săn múa khiên được miêu tả đầy hào hứng :
“Đăm Săn rung khiên múa. Một lần xốc tới, chàng vượt một đồi tranh. Một lần xốíc tới nữa, chàng vượt một đồi lổ ô. Chàng chạy vun vút qua phía đông, vun vút qua phía tây”.
Sức mạnh của Đăm Săn trong trận chiên đấu có thể ví với sức manh của tự nhiên, trời đất và vũ trụ.
+ Cuộc chiến diễn ra rất quyết liệt. Mtao Mxây đã đuốĩ sức, hắn bảo Hơ Nhị quăng cho hắn một miêhg trầu. Nhưng Đăm Săn nhanh hơn đoạt được miếng trầu ấy. Chàng nhai trầu và sức lực tăng lên gấp bội, chàng tiếp tục chiến đấu với sức mạnh mới.
Sự xuất hiện của nàng Hơ Nhị và miếng trầu vào thời điểm cuộc chiến đang quyết liệt có ý nghĩa đặc biệt. Nàng là vỢ chính thức của Đăm Săn. Nay nàng đang lâm vào cảnh bị bắt cóc. Đối với Mtao Mxây, nàng chỉ là một thứ của cải mà hắn đoạt được sau vụ cướp bóc chứ giữa nàng và hắn không có chút tình nghĩa vỢ chồng. Miếng trầu “nên duyên vợ chồng” của Hơ Nhị với Đăm Săn không thể trao vào tay kẻ thù. Hơ Nhị trở thành trợ thủ trao vật thần kì cho Đăm Săn. Tình yêu đã tiếp thêm sức mạnh cho chàng, chàng phóng giáo trúng đùi Mtao Mxây nhưng không thủng.
Hiệp đấu thứ hai :
+ Đăm Săn đã làm tất cả những gì có thể nhưng chưa giành được chiến thắng vì Mtao Mxây được bảo vệ bởi lớp áo giáp sắt. Đăm Săn thấm mệt, chàng vừa chạy vừa ngủ, mộng thấy ông Trời. Chi tiết này có ý nghĩa sâu sắc, thể hiện quan niệm về cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân vật anh hùng chống lại đối thủ luôn được sức mạnh siêu nhiên trợ giúp. Chi tiết trợ giúp của ông Trời rất gần với sự tham gia của các vị thần trên đỉnh ô-lim-pi-a vào cuộc chiến thành Tơ-roa được ghi lại trong hai trường ca I-li-át và Ô-đi-xê.
+ Hiệp đấu thứ hai kết thúc với chiến thắng vẻ vang của Đăm Săn. Mtao Mxây thất thế chạy trốn thật thảm hại. Hắn rúc vào cả chuồng lợn, chuồng trâu và cất lời cầu xin Đăm Săn :
“ơ diêng, ơ điêng, để ta làm lễ cầu phúc cho điêng một trâu ! Ta cho thêm díêngmột voi.”.
+ Trước khi đâm chết và cắt đầu Mtao Mxây đem bêu ngoài đường, Đăm Săn đã tuyên án hắn. Tội ác của Mtao Mxây trời không dung, đất không tha, dù ở thời nào con người cũng không chấp nhận. Hắn đáng bị trừng phạt như vậy. Việc bêu đầu hắn ngoài đường là để răn đe những kẻ nào rắp ranh phản bạn và cướp phá buôn làng. Hành động của Đăm Săn không thể hiện sự dã man, khát máu nên được dân chúng tán thành, ủng hộ.

 b.Đăm săn chiến thắng trở về 

* Thái độ và hành động của Đăm Săn với tôi tớ của Mtao Mxây
Muc đích của cuộc chiến là bảo vệ danh dự của tù trưởng anh hùng, danh dự của bộ tộc, là để cứu vợ, trừng phạt kẻ cướp, đem lại sự yên ổn cho dân Mục đích cao cả ây, Đăm Săn đã đạt được. Chàng có thể kéo quân trở về trong hào quang chiên thắng.
Trong toàn bộ tác phẩm nói chung và trong đoạn trích nói riêng, qua lời người dẫn truyện và lời nói của Đăm Săn, không có chi tiết nào nói về việc Đăm  Săn gây chiếh để cướp bóc và chiếm đoạt nô lệ. Đó không phải là mục đích chiến đấu của chàng. Khi tù trưởng Mtao Mxây đã bị tiêu diệt, tôi tớ của hắn như rắn không đầu (họ cần một tù trưởng anh hùng bảo vệ và dẫn dắt, cần có một cộng đồng để hoà nhập, để có cuộc sống yên vui, thịnh vượng) ; Đăm Săn không cưỡng bức, không ép buộc tôi tớ của Mtao Mxây theo mình. Chàng kêu gọi và cho họ quyền tự định đoạt số phận của mình. Lòng nhân hậu, đức khoan dung của Đăm Săn đã giảm bớt nỗi đau khổ cho dân làng trong chiến tranh và hoàn toàn thuyết phục họ tự nguyện theo chàng.

*. Thái độ và hành động của tôi tớ, dân làng Mtao Mxây

Đây là chiến tranh giữa các nhóm đồng tộc, cho nên sau khi tù trưởng thù địch bị tiêu diệt thì tù trưởng chiến thắng có thể dung nạp tôi tớ của kẻ thù, cũng như người dân phía bên kia có thể hoà nhập vào bộ tộc mới một cách nhanh chóng.
Vì thế, khi nghe lời kêu gọi của Đăm Săn và cảm phục trước khí phách anh hùng, tài năng, sức manh của Đăm Săn, cảm mến đức khoan dung của chàng, tôi tớ, dân làng Mtao Mxây đã tự nguyện theo Đăm Săn để bắt đầu một cuộc sống mới. Tác giả dân gian miêu tả cảnh “chuyên nhà” của họ với một cảm xúc hào hứng, say mê :
“Đoàn người đông như bầy cà tong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiên như mối. Bà con xem, thế là Đăm Săn nay càng thêm giàu có, chiêng lắm la nhiều. Tôi tớ mang của cải về nhiều như ong đi chuyển nừớc, như vò vẽ đi chuyên hoa, như bầy trai gái đi giếng làng cõng nước”.
Qua đây, ta càng thấy vai trò quyết định của thủ lữửi trong chiến tranh và đời sông xã hội thời bộ lạc, thấy được sự thông nhất cao độ giữa cá nhân anh hùng sử thi với cộng đồng bộ tộc.

c. Lễ ăn mừng chiến thắng

Trong đoạn trích có hai cảnh được miêu tả rõ rệt : cảnh chiến tranh và cảnh ăn mừng chiến thắng. Tác giả dân gian đã miêu tả cảnh ăn mừng chiến thắng với cảm hứng mê say, nhiệt thành, thể hiện thái độ, cách nhìn nhận về ý nghĩa thời đại của chiến tranh bộ tộc và tầm vóc lịch sử của người anh hùng sử thi trong sự phát triển của cộng đồng.
Lễ cúng người chết và thần linh, lễ ăn mừng chiến thắng
Đã có chiến tranh, tất yêu có đổ máu ỏ cả hai phía. Tác gia dân gian không miêu tả tỉ mỉ, rùng rỢn cảnh máu đổ, nhưng người đọc phải ngâm hiêu điều này. Tưởng nhớ và biết ơn người hi sinh là việc nghĩa. Lễ cứng người chêt sau chiên thắng là một nghi lễ mang tính nhân đạo (đã được ông Trời, các vị thần linh và hương hồn của tổ tiên, ông bà tiếp thêm sức mạnh chiên thắng thì cũng phải biết ghi lòng tạc dạ). Lễ cúng thần linh, tạ ơn tổ tiên là nghi lễ tri ân rất thiêng liêng thể hiện ý thức xây đắp truyền thống của các tộc người Tây Nguyên.
Nghi lễ này mang ý nghĩa chiến tranh bộ tộc và tầm vóc lịch sử của người anh hùng trong sự phát triển của bộ tộc. Chiến tranh thời bộ tộc không nhằm hủy diệt sự sống mà là một việc tất yếu để bảo vệ và phát triển cuộc sống trong hoà bình. Vì vậy, sau chiến thắng của Đăm Săn, khi tiếng khiên giáo vừa dứt, cái ác, cái xâu, cái ti tiện, thấp hèn bị quét sạch, thì cuộc sống lại tưng bừng như hội.
Lễ vật cúng thần, cúng tổ tiên thật hậu để mong muốn những điều thánh thiện : cầu sức khoẻ, cầu bình yên, cầu thịnh vượng. Lễ ăn mừng thật tưng bừng, đầy đủ vật chất, sang trọng về tinh thần, tràn ngập niềm vui, cả một cộng đồng hoà nhập thành một khối trong niềm vui ở tương lai.
+ Tiếng cồng chiêng thể hiện sức mạnh tình thần, niềm vui sông của cộng đồng.
+ Khách khứa, dân làng, tôi tớ của Đăm Săn “đông nghịt” được đón tiếp trọng thể và ăn uống no say thoả thích.
Khẳng định tầm vóc lịch sử của người anh hùng trong sự phát triển của cộng đồng
Đăm Săn là niềm tự hào của bộ tộc, là kết tính vẻ đẹp, tài năng, sức manh, ý chí của cộng đồng. Trong bối cảnh của ngày hội chiến thắng, chàng hiện lên thật đẹp, vẻ đẹp của một dũng sĩ. Sức mạnh của Đăm Săn “ngang sức voi đực, hơi thở chàng ầm ầm tưa sâm dậy”. Đăm Săn có lòng dũng cam vô song, là một nhân cách vẹn toàn, luôn đi đầu trong công việc. Đăm Săn chiến thắng Mtao Mxây, chàng vừa bảo vệ được hạnh phúc gia đình, vừa mang lại sự giàu mạnh và uy danh cho cộng đồng.
Đăm Săn có sức lôi cuốn các nhân vật quần chúng. Mối quan hệ qua lại giữa vai trò của cá nhân và cộng đồng tạo nên ý nghĩa biểu trưng của hình tượng anh hùng sử thi : sức mạnh, lí tưởng của Đăm Săn biểu trưng cho sức mạnh và lí tưởng của cộng đồng.
3. Những điểm nổi bật về nghệ thuật sử thi thể hiện trong đoạn trích

Nghệ thuật xây dựng nhân vật sử thi

- Mỗi nhân vật sử thi đều có vai trò đối với diễn biến của các sự kiện sử thi.
  + Nhân vật Mtao Mxây với hành động cướp bóc buôn làng của Đăm Săn, bắt cóc vợ Đăm Săn là nguyên nhân của cuộc chiến. Mtao Mxây thuộc loại nhân vật phản diện.
Nhân vật Đăm Săn là nhân vật trung tâm của sử thi, quyết định sự diễn biến của cốt truyện sử thi, có sức thuyết phục, lôi cuốn các nhân vật quần chúng.
+ Nhân vật ông Trời và Hơ Nhị đóng vai trò nhân vật trợ thủ của anh hùng. Ông Trời là nhân vật trợ thủ thần kì, Hơ Nhị là nhân vật trợ thủ trao vật thần kì. Hành động trợ thủ của những nhân vật này thê hiện quan niệm về cuộc chiến đấu chírth nghĩa của nhân vật anh hùng.
+ Nhân vật quần chúng đóng vai trò hậu thuẫn cho nhân vật anh hùng, bị lôi cuốn bởi những phẩm chất phi phàm của nhân vật anh hùng. Mối quan hệ giữa nhân vật anh hùng và nhân vật quần chúng tạo nên ý nghĩa biểu trưng : người anh hùng sử thi biểu trưng cho sức mạnh, lí tưởng của cả cộng đồng.
- Nghệ thuật sử dụng ngôn từ của sử thi anh hùng
- Ngôn ngữ của người kể khá sinh động, lỉnh hoạt. Khi miêu tả nhà Mtao Mxây, chân dung Mtao Mxây, động tác chiến đấu và diễn biến của giao tranh, miêu tả vẻ đẹp của Đăm Săn, khung cảnh tôi tớ theo Đăm Săn và không khí lễ hội chiên thắng,.. ; tác giả dùng ngôn ngữ lúc thì trang trọng, giàu hình ảnh nhịp điệu, lúc thì dùng phép so sánh, phóng đại.
+ Ngôn ngữ đôì thoại của các nhân vật được sử dụng nhiều và linh hoạt, giàu tính kịch. Những câu ra lệnh, kêu gọi tạo nên không khí hùng tráng.
+ Trong ngôn ngữ người kể chuyện có xen vào ngôn ngữ đối thoại của người kể để lôi cuốn người nghe, truyền cảm xúc cho người nghe.

Ôn tập một số đề đọc hiểu về đoạn trích
Đề 1:
“Đến lúc này, Mtao Mxây  bảo  Hơ Nhị quăng cho hắn miếng trầu. Nhưng Đăm Săn đã đớp được miếng trầu. Chàng nhai trầu, sức chàng tăng lên gấp bội.”
(…)Đến lúc này Đăm Săn  đã thấm mệt. Chàng vừa chạy vừa ngủ  mộng thấy ông Trời.
Đăm Săn :  Ối chao,chết mất thôi ông  ơi ! Cháu đâm mãi mà không thủng  hắn !”.
Ông Trời : “Thế ư, cháu ? Vậy thì cháu hãy lấy một cái chày mòn ném vào vành tai hắn là được”.
Đăm Săn bừng tỉnh,chộp ngay một cái chày mòn, ném trúng vào vành tai kẻ địch.
(Trích Đăm Săn- sử thi Tây Nguyên)
 
1.Ý nghĩa của hình ảnh miếng trầu trong đoạn trích trên?
2.Vai trò của ông trời đối với cuộc chiến đấu và chiến thắng của Đăm Săn được thể hiện  như thế nào?
3.Sáng tạo chi tiết miểng trầu và nhân vật ông trời, tác giả dân gian muốn bày tỏ thái độ và tình cảm gì đối với nhân vật chính của tác phẩm?
4/ Viết đoạn văn ngắn ( 5 đến 7 dòng) bày tỏ suy nghĩ về vai trò của con người trong cuộc sống hôm nay.
 
Trả lời:
1/ Miếng trầu mang ý nghĩa biểu tượng cho sức mạnh của thị tộc tiếp sức cho người anh hùng. Người anh hùng trong xã hội cổ đại không thể sống tách rời thị tộc.
2/ Ông Trời là vị thần bảo trợ cho thị tộc. Ông Trời giúp đỡ và chỉ giúp đỡ cho những ai chiến đấu vì quyền lợi của thị tộc. Cần nói thêm là cả Đăm Săn và Hơ Nhí đều có nguồn gốc thần linh. Đó chính là ngọn nguồn tài năng, sức mạnh kì vĩ mà nhân vật có được. Trong thời đại sử thi, con người không thể chiến thắng nếu không dựa vào sự giúp sức của thần linh. Mối quan hệ giữa con người và thần linh gần gũi, mật thiết thậm chí bình đẳng thân tình. Điều đó phản ánh dấu vết của tư duy thần thoại cổ sơ, dấu vết của xã hội chưa có sự phân hóa giai cấp rạch ròi.
Thần linh có tham gia vào việc con người nhưng chỉ đóng vai trò gợi ý, cố vấn, không quyết định kết quả cuộc chiến. Kết quả đó hoàn toàn phụ thuộc vào hành động của người anh hùng. Điều đó biểu hiện của ý thức dân chủ công xã thời thị tộc cổ xưa.
3/ Qua cách kể lại cuộc chiến, chúng ta thấy được thái độ yêu mến, tự hào của tập thể cộng đồng (dân làng Êđê) đối với chiến thắng của cá nhân anh hùng (tù trưởng ĐĂM SĂN)
4/ Đoạn văn đảm bảo các yêu cầu :
-Hình thức: đảm bảo về số câu, không được gạch đầu dòng, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp. Hành văn trong sáng, cảm xúc chân thành ;
-Nội dung: Từ nhân vật Đăm Săn quyết định cho việc chiến thắng kẻ thù qua văn bản, thí sinh thấy được vai trò quan trọng của con người trong cuộc sống hôm nay. Từ đó, cần phải tôn trọng, bảo vệ con người, đề cao nhân quyền. Phê phán những hành động xâm phạm quyền sống và quyền lợi của con người. Rút ra bài học nhận thức và hành động.
 
 Đề 2:
Đọc văn bản sau đây và trả lời câu hỏi:
 (…)“Đăm Săn rung khiên múa. Một lần xốc tới chàng vượt một đồi tranh. Một lần xốc tới, chàng vượt một đồi lồ ô. Chàng chạy vun vút qua phía đông, vun vút qua phía tây ” ;
(…)“Thế là Đăm Săn lại múa.Chàng múa trên cao, gió như bão. Chàng múa dưới thấp, gió như lốc” ; “Khi chàng múa chạy nước kiệu, quả núi ba lần rạn nứt, ba đồi tranh bật rễ bay tung”.
(Trích Đăm Săn- sử thi Tây Nguyên)
  1. Nêu nội dung chính của văn bản?
  2. Qua nội dung đó, em có nhận xét gì ?
  3. Xác định biện pháp tu từ so sánh, phép điệp, phép đối, phóng đại được sử dụng trong những câu văn trên? Tác dụng của biện pháp đó?
4/ Em có nhận xét gì về cách người kể miêu tả hai lần múa khiên đó ?
Trả lời:
1/ Nội dung chính của văn bản: miêu tả 2 lần múa khiên của Đăn Săn trong cuộc đấu với Mtao Mxay.
2/ Nhận xét qua 2 lần múa khiên của Đăm Săn: Lần múa khiên thứ hai hùng tráng hơn lần đầu. Lần múa đầu, Đăm Săn chỉ vượt qua các chướng ngại vật, nhưng lần múa sau, chàng đã gây sự chết chóc cho nhiều thứ.
3/ Biện pháp tu từ so sánh, phép điệp, phóng đại
– Biện pháp tu từ so sánh : gió như bão ; gió như lốc
– Phép điệp : điệp từ múa ,vun vút ; điệp cú pháp: Một lần xốc tới chàng vượt một đồi tranh. Một lần xốc tới, chàng vượt một đồi lồ ô…;
– Phép đối: cao-thấp
– Phóng đại: quả núi ba lần rạn nứt, ba đồi tranh bật rễ …
Tác dụng: Ca ngợi sức mạnh và tài năng của Đăm Săn trong cuộc đấu với kẻ thù để đem lại hạnh phúc gia đình và dân làng.
4/ Nhận xét :
-Đây là đặc điểm thường thấy ở sử thi, các anh hùng tỏ rõ tài năng, phẩm chất trước đối thủ thông qua một động tác giống nhau ;
– Đây là thử thách lớn đối với người kể bởi vì nếu non tay thì sẽ trùng lặp, nhàm chán ;
– Đây cũng là biện pháp để thực hiện sự trì hoãn sử thi bằng cách lặp lại việc mô tả múa khiên hai lần.
 Đề 3:
Đọc văn bản sau đây và trả lời câu hỏi:
            …“Cả miền Ê-đê Ê-ga ca ngợi Đăm Săn là một trang dũng tướng chắc chết mười mươi vẫn không lùi bước. Ngực quấn chéo một tấm mền chiến, mình khoác một tấm áo chiến, tai đeo nụ, sát bên mình nghênh ngang đủ giáo gươm, đôi mắt long lanh  như mắt chim ghếch ăn hoa tre, chàng Đăm Săn hiện ra là một trang tù trưởng mới giàu lên, đang tràn đầy sức trai, tiếng tăm lẫy lừng. Bắp chân chàng to bằng cây xà ngang. Bắp đùi chàng to bằng ống bễ, sức chàng ngang sức voi đực, hơi thở chàng ầm ầm tựa sấm dậy,chàng nằm sấp thì gãy rầm sàn, chàng nằm ngửa thì gãy xà dọc: Đăm Săn vốn đã ngang tàng từ trong bụng mẹ”…
(Trích Đăm Săn- sử thi Tây Nguyên)
1.Nêu nội dung chính của văn bản?
2.Đăm Săn được miêu tả như thế nào trong văn bản.
3.Biện pháp nghệ thuật nào được sử dụng  trong văn bản trên? Tác dụng của biện pháp đó?
4.Người kể tỏ thái độ, tình cảm gì với nhân vật Đăm Săn ?
Trả lời:
1/ Nội dung chính của văn bản: miêu tả hình dáng và sức mạnh của Đăn Săn trong cảnh ăn mừng chiến thắng.
2/ Đăm Săn được miêu tả :
-Trang phục : Ngực quấn chéo một tấm mền chiến, mình khoác một tấm áo chiến, tai đeo nụ.
-Hình thể: tràn đầy sức trai ; Bắp chân chàng to bằng cây xà ngang ; Bắp đùi chàng to bằng ống bễ
– Khí chất, thể tạng : dũng tướng chắc chết mười mươi vẫn không lùi bước,chàng ngang sức voi đực, hơi thở chàng ầm ầm tựa sấm dậy,chàng nằm sấp thì gãy rầm sàn, chàng nằm ngửa thì gãy xà dọc: Đăm Săn vốn đã ngang tàng từ trong bụng mẹ
3/ Biện pháp nghệ thuật nào được sử dụng  trong văn bản trên:
-Sử dụng thành công thủ pháp so sánh liên tiếp : như mắt chim ghếch,to bằng cây xà ngang…
-Kết hợp với phóng đại : Bắp đùi chàng to bằng ống bễ, sức chàng ngang sức voi đực, hơi thở chàng ầm ầm
-Sử dụng phép đối, phép điệp cú pháp : chàng nằm sấp thì gãy rầm sàn, chàng nằm ngửa thì gãy xà dọc
Tác dụng : Hình ảnh so sánh lấy từ thiên nhiên, rừng núi và cuộc sống quen thuộc của đồng bào Tây Nguyên. Qua đó, hình ảnh người anh hùng vừa gần gũi lại vừa kì vĩ, mang đậm chất sử thi hào hùng.
4/ Người kể tỏ thái độ, tình cảm ngưỡng mộ, ca ngợi, tự hào với nhân vật Đăm Săn. 
ĐỀ BÀI MỞ RỘNG
Vẻ đẹp của những anh hùng sử thi qua một số đoạn trích: "Chiến thắng Mtao Mxây" - Trích "Sử thi Đăm Săn" và "Uy- lít- xơ trở về"- Trích "Sử thi Ô- đi- xê".
GỢI Ý
*. Yêu cầu về kiến thức
1. Mở bài:
  • Giới thiệu về Sử thi anh hùng
  • Khái quát về vẻ đẹp nhân vật anh hùng sử thi qua hai đoạn trích
2. Thân bài:
  • Giống nhau:
    • Vẻ đẹp ngoại hình: Hai anh hùng đều có tầm vóc đẹp đại diện cho cộng đồng và sánh ngang với thần linh. Kích thước lớn lao theo quan điểm thẩm mĩ, theo chuẩn mực riêng của cộng đồng.
    • Vẻ đẹp phẩm chất, sức mạnh, tài năng, trí tuệ, đức hạnh: Lòng dũng cảm, sức mạnh phi thường, tài trí hơn người, lập được nhiều chiến công hiển hách, biết căm ghét kẻ hung ác, bênh vực kẻ yếu đuối, biết hy sinh để bảo vệ hạnh phúc cho cộng đồng.
    • Vẻ đẹp của họ được làm nổi bật là nhờ vào ngôn ngữ miêu tả, lời kể chuyện hấp đẫn, ngôn từ miêu tả khoa trương, các biện pháp nghệ thuật: So sánh, phóng đại...
  • Khác nhau: 2,0 điểm

Anh hùng Đăm Săn trong đoạn trích "Chiến thắng Mtao Mxây"- Trích "Sử thi Đăm Săn" 

a. Vẻ đẹp ngoại hình:

  • Vẻ đẹp chân thật, đơn giản, gắn với kích thước của núi rừng, sông suối, chim muông: Hứng tóc chàng ở dưới đất là một cái nong hoa, đầu đội khăn nhiễu, vai mang nải hoa, ngực quấn chéo một tấm mền chiến, tai đeo nụ, đôi mắt long lanh, bắp chân to bằng cây xà ngang, bắp đùi to bằng ống bễ...

b. Vẻ đẹp phẩm chất, sức mạnh, tài năng, trí tuệ, đức hạnh

  • Sức khoẻ, sức mạnh phi thường, hùng cường ngay khi còn ở trong bụng mẹ: Hơi thở ầm ầm tựa sấm, nằm sấp thì gãy rầm sàn, nằm ngửa thì gãy xà dọc, đánh đâu đập tan đó.
  • Tài năng: Múa khiên đẹp, nhanh và mạnh. Chàng có thể đánh thắng tất cả các tù trưởng khác.
  • Đức hạnh: Yêu vợ, yêu cuộc sống tự do, khát khao đem lại sự bình yên và giàu có cho buôn làng.
Anh hùng Uy- lít- xơ trong đoạn trích "Uy- lít- xơ trở về"- Trích "Sử thi Ô- đi- xê" 
a. Vẻ đẹp ngoại hình:
  • Vẻ đẹp siêu phàm, kì vĩ: "Trông người đẹp như một vị thần".
b. Vẻ đẹp phẩm chất, sức mạnh, tài năng, trí tuệ, đức hạnh
  • Dũng cảm, gan dạ, phi thường: Không thỏa hiệp với bất cứ trở ngại nào trên đường để trở về quê hương
  • Tài năng: Bắn tên xuyên qua mười hai cái vòng rìu, giết chết bọn cầu hôn cùng những gia nhân phản bội.
  • Trí tuệ, mưu trí: "Sánh ngang với thần linh", ứng xử tinh tế, biết nhẫn nại và kiên trì chấp nhận thử thách của vợ.
  • Đức hạnh: Là người chồng chung thuỷ, người cha độ lượng, người con yêu quê hương...
3. Kết bài: 0,5 điểm
  • Đánh giá chung về vẻ đẹp của những anh hùng sử thi qua một số đoạn trích đã học.
  • Nêu suy nghĩ của bản thân.

BÀI LÀM THAM KHẢO VỀ CHIẾN THẮNG MTAO MXAY

   Từ bao đời nay, người Ê-đê đã cùng quây quần bên bếp lửa, nghe không biết chán từ đêm này sang đêm khác khen Đăm Săn bài ca về người tù trưởng anh hùng của dân tộc mình với những chiến công hiển hách trong xây dựng phát triển buôn làng và bảo vệ cộng đồng chống lại bao kẻ thù hung hãn. Trong những chiến công lẫy lừng ấy, ngất ngây lòng người vẫn là đoạn Đánh thắng Mtao Mxây, chứng tỏ tài năng, bản lĩnh, lòng dũng cảm phi thường và sức mạnh vô địch của Đăm Săn.
Sở dĩ xảy ra cuộc chiến này là do Mtao Mxây (tù trưởng sắt) đã cướp Hơ-Nhị – vợ của Đăm Săn. Đối với người Ê-đê theo chế độ mẫu hệ, việc bị kẻ thù cướp mất vợ là một nỗi sỉ nhục của cả cộng đồng. Đánh thắng Mtao Mxây là lần thứ hai Đăm Săn phải chiến đấu với kẻ thù để giành lại người vợ chứng tỏ sự hùng mạnh của Đăm Săn. Chàng phải đối mặt với kẻ thù hung bạo và cũng có sức mạnh phi thường không kém. Hàng loạt những hình ảnh so sánh trong đoạn trích cho thấy rõ sự tương phản giữa Đăm Săn với kẻ thù, làm nổi bật lên sự hào hùng của chàng và sự thảm hại của Mtao Mxây. Đó chính là nét đặc sắc trong nghệ thuật đoạn trích này, tôn vinh vẻ đẹp người anh hùng Đăm Săn.
Vẻ đẹp Đăm Săn hiện rõ ngay từ khi chàng bước chân vào lãnh địa của Mtao Mxây. Tù trưởng sắt hung bạo dù kiêu căng ngạo mạn cũng luôn phải dè chừng sự hiện diện của chàng. Hình ảnh Đăm Săn cùng những bạn bè đồng minh của chàng hiện lên dưới mắt kẻ thù thật dũng mãnh với khố màu sặc sỡ, đầu đội khăn đẹp cùng khí thế hừng hực: Gươm sáng như mặt trời. Thân mình ở trần như quả dưa, ở thế chờ sẵn như con sócằ Mắt sáng gấp đôi gấp ba mắt thường. Hình ảnh so sánh thật đặc trưng đã làm đậm nét phi thường của người anh hùng. Tư thế ấy lại gắn liền hành động thách thức chặt ống tre thành ba khúc, xô đổ hàng rào hàm chứa sức mạnh tuyệt luân của chàng. Khi giáp chiến cùng Đăm Săn, dù ngôn ngữ sử thi miêu tả Mtao Mxây cũng rất đẹp, rất dũng mãnh nhưng vẫn lộ ra sự khiếp nhược trước Đăm Săn. Lời nói của hắn với chàng lộ ra sự hèn nhát: Đừng đâm ta lúc ta đang xuống nhé. Đáp lại, Đăm Săn đã bộc lộ sự khinh bỉ kẻ thù tư thế đàng hoàng của mình: Sao ta lại đâm ngươi khi ngươi đang đi xuống nhỉ. Ngươi xem, đến con lợn nái của nhà ngươi dưới đất, ta cũng không thèm đâm nữa là.

Cuộc đối đầu của Đăm Săn với Mtao Mxây là cuộc chiến đấu giữa, hai tù trưởng dũng mãnh. Phẩm chất anh hùng theo cách nhìn sử thi là ở sự chiến thắng bằng sức mạnh và sự can đảm. Cuộc đối đầu sinh tử ấy không có chỗ dung thân cho kẻ nào hèn nhát. Trong tình cảm tôn vinh người anh hùng cùa buôn làng, mọi cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của Đăm Săn đều nổi bật, vượt trội hơn kẻ thù. Chúng ta cùng được chứng kiến màn thi tài múa khiên thú vị: Mtao Mxây thể hiện rõ sự khoác lác khi lời nói của hắn được minh chứng bằng tiếng khiên kêu lộc cộc, lộp cộp như tiếng những quả mướp đập vào nhau, còn Đăm Săn đã dập tắt nhuệ khí của hắn bằng sức mạnh phi thường trong màn múa khiên độc đáo. Ngôn ngữ sử thi khoa trương sức mạnh ấy ngang sức mạnh tự nhiên: Một bước nhảy, chàng vượt qua mây đồi tranh. Một bước lùi, vượt qua mấy đồi mía. Tiếng gió khiên rít vù vù như dông bão, cây cối nhà cửa ở xung quanh cũng nghiêng ngả. Lần múa khiên thứ hai của chàng còn ghê gớm hơn bởi dồn chứa sức mạnh trừng phạt Mtao Mxây. Sức mạnh Đăm Săn có được còn nhờ sự trợ lực của người vợ Hơ Nhị khi nàng ném trầu và thuốc cho chàng để sức lực tăng lên gấp bội.
Đăm Săn không hề đơn độc trong cuộc chiến vì danh dự này. Chính nghĩa thuộc về chàng khi các tù trưởng bạn hùng mạnh giúp chàng giành lại người vợ yêu quí. Đồng thời, chàng còn được sự trợ giúp của ông Trời. Người anh hùng sử thi luôn có mối quan hệ với lực lượng siêu nhiên. Trời đã giúp chàng đánh rơi áo giáp của Mtao Mxây. Khi không còn áo sắt, hắn thật thảm hại và hèn nhát, hắn lần lượt chạy trốn vào chuồng heo, chuồng trâu, khi sắp chết lại buông ra những lời hèn nhát. Ông trời chỉ đóng vai trò hỗ trợ Đăm Săn, còn chính chàng mới là người kết liễu kẻ thù, đòi lại danh dự, cướp lại người vợ được Trời tác thành. Giết Mtao Mxây, chính nghĩa thuộc về Đăm Săn. Chiến thắng được tôn vinh cùng với việc Đăm Sàn được sở hữu tất cả tài sản, dân làng, tôi tớ của hắn. Quyền sở hữu này là đặc trưng gắn với thời kì chuyển từ công xã thị tộc sang chiếm hữu nô lệ, làm nên vinh quang của người anh hùng. Bởi thế hình ảnh trong sử thi được mô tả với qui mô hoành tráng, mọi người tình nguyện theo Đăm Săn đông như bầy hươu nai, lố nhố như đàn kiến cánh, như bầy kiên đen, như đàn mối trắng. Chàng thêm quyền uy, thêm nhiều chiêng núm, chiêng bằng – của cải trở thành biểu tượng sức mạnh tuyệt đối của người anh hùng.
Chính vì thế, để xứng đáng với chiến công cũng phải có một lễ ăn mừng chiến thắng thật kì vĩ. Lời kêu gọi của Đăm Săn có sức mạnh hiệu triệu muôn người như một, bởi chàng đem lại niềm vinh quang chiến thắng, đem lại sự bình yên cho bến nước buôn làng. Lễ cúng mừng chiến thắng hào phóng cũng là để tôn vinh xứng đáng: Hãy lấy bảy chum rượu, bảy con trâu đực, bảy con heo thiến đế cúng cho Đăm Săn này đã chiến thắng Mtao Mxây, để ta được như cây cổ thụ cao vút. Dấu ấn tâm linh sau chiến thắng cho thấy Trời đứng về phía Đăm Săn. Không khí hội còn náo nức tưng bừng với chiêng trỏng vang lừng khiến vỡ cả sàn nhà, làm bay mái tranh lợp nhà, con khỉ con vượn mãi nghe mà quên đi hái trái cây, những con voi và con tê giác cũng phải lắng nghe mà quên cả cho con bú. Nổi bật giữa đám đông hoan hỉ ấy tất yếu phải là người anh hùng Đàm Săn – tù trưởng hùng mạnh ít ai sánh kịp. Ngay cả trong không khí yên bình của cộng đồng, vẻ đẹp ấy vẫn nổi bật từ ngoại hình đến hành dộng: mái tóc dài cuồn cuộn thả xuống một cái chiêng, uồng rượu không bao giờ say, ăn uống không bao giờ thây no. Hơn thế nữa, ngôn ngữ phóng đại của sử thi đã so sánh chàng ngang sức mạnh thần linh: Oai linh vang đến tận thần núi phía Đông, đến tận thần núi phía Tây. Hình ảnh Đăm Săn sau chiến công này được mô tả phóng đại và như một điệp khúc vang vọng niềm tự hào về người anh hùng tiêu biểu của cộng đồng: Và người ta bàn tán không cùng, rằng Đăm Săn quả thật là một tù trưởng dũng cảm, không bao giờ chịu lùi bước. Chàng ta mang chăn choàng trên vai, tay đeo vòng, cầm gươm chạm trỗ sắc bén… Đăm Săn hùng cường ngay từ trong lòng mẹ, vẻ đẹp ấy chỉ có thể xuất hiện trong sử thi anh hùng, chỉ có ngôn ngữ sử thi mới đem lại những vẻ đẹp độc đáo đến thế.
Đoạn trích đã đem lại cho ta những cách nhìn độc đáo về người anh hùng Đăm Săn trong chiến công bảo vệ buôn làng, đem lại bình yên cho bến nước. Lời kể chuyện hấp dẫn cùng ngôn ngữ miêu tả khoa trương tạo được dấu ấn đặc sắc, chứa đựng những giá trị nhân văn đặc trưng của sử thi. Sử thi anh hùng Đăm Săn quả thật đã hình thành ý thức và tình cảm cộng đồng vững bền của dân tộc Ê-đê, thành di sản quý báu của Tây Nguyên và dân tộc Việt Nam, đánh dấu thời đại sử thi rực rỡ với vẻ đẹp một đi không trở lại.


 

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây