MẤY Ý NGHĨ VỀ THƠ – Nguyễn Đình Thi - ĐÔ-XTÔI-ÉP-XKI

Thứ tư - 23/09/2020 12:50
soạn bài đô-xtôi-ép-xki, Mấy ý nghĩ về thơ nội dung và nghệ thuật, Tóm tắt Mấy ý nghĩ về thơ, Soạn Mấy ý nghĩ về thơ nâng cao, Lập dàn ý bài Mấy ý nghĩ về thơ, Soạn văn 12, Soạn văn lớp 12 trang 60, Mấy ý nghĩ về thơ bộ cục, Mấy ý nghĩ về thơ Giáo án, Mấy ý nghĩ về thơ đọc hiểu, Soạn Mấy ý nghĩ về thơ ngắn nhất, Mấy ý nghĩ về thơ violet, đô-xtôi-ép-xki là ai, soạn bài đô-xtôi-ép-xki ngắn gọn, Hoàn cảnh sáng tác Đô-xtôi-ép-xki, đô-xtôi-ép-xki nội dung, giáo án đô-xtôi-ép-xki, Đô-xtôi-ép-xki cadasa, Đó xtôi ép xki wikipedia, Nghị luận về một hiện tượng đời sống lớp 12, Soạn Phong cách ngôn ngữ khoa học, Dostoevsky
ngữ văn 12
ngữ văn 12
soạn bài đô-xtôi-ép-xki, Mấy ý nghĩ về thơ nội dung và nghệ thuật, Tóm tắt Mấy ý nghĩ về thơ, Soạn Mấy ý nghĩ về thơ nâng cao, Lập dàn ý bài Mấy ý nghĩ về thơ, Soạn văn 12, Soạn văn lớp 12 trang 60, Mấy ý nghĩ về thơ bộ cục, Mấy ý nghĩ về thơ Giáo án, Mấy ý nghĩ về thơ đọc hiểu, Soạn Mấy ý nghĩ về thơ ngắn nhất, Mấy ý nghĩ về thơ violet, đô-xtôi-ép-xki là ai, soạn bài đô-xtôi-ép-xki ngắn gọn, Hoàn cảnh sáng tác Đô-xtôi-ép-xki, đô-xtôi-ép-xki nội dung, giáo án đô-xtôi-ép-xki, Đô-xtôi-ép-xki cadasa, Đó xtôi ép xki wikipedia, Nghị luận về một hiện tượng đời sống lớp 12, Soạn Phong cách ngôn ngữ khoa học, Dostoevsky

I. MẤY Ý NGHĨ VỀ THƠ:

1 . Đặc trưng cơ bản nhất của thơ: thể hiện tâm hồn con người.
- Đặt ra một câu hỏi: không mang nghĩa nghi vấn mà khẳng định:
Đầu mối của thơ có lẽ ta đi tìm bên trong tâm hồn con người chăng?”.
- Khởi đầu một bài thơ: phải có “rung động thơ”, sau đó mới “làm thơ”.
- Rung động thơ:
+ có được khi tâm hồn ra khỏi trạng thái bình thường;
+ do có sự va chạm với thế giới bên ngoài, với thiên nhiên, với những người khác mà tâm hồn thức tỉnh, bật lên những tình ý mới mẻ.
- Còn làm thơ:
+ là thể hiện những rung động của tâm hồn con người bằng lời nói (tức là chữ).
+ Những lời, những chữ ấy phải có sức mạnh truyền cảm tới người đọc, khiến “mọi sợi dây của tâm hồn rung lên”.
2. Những đặc trưng khác của thơ gồm: hình ảnh, tư tưởng, cảm xúc, cái thực,...
- Hướng tới việc biểu hiện tâm hồn con người, hình ảnh của thơ: không chỉ ghi lại cái vẻ bề ngoài mà “đã bao hàm một nhận thức, một thái độ tình cảm hoặc suy nghĩ”.
- Thơ gắn liền với sự suy nghĩ, thơ phải có tư tưởng, nhưng tư tưởng trong thơ cũng là tư tưởng - cảm xúc, “thơ muốn lay động những chiều sâu của tâm hồn, đem cảm xúc mà đi thẳng vào sự suy nghĩ”.
- Cảm xúc, tình cảm là những yếu tố quan trọng bậc nhất mà nhà thơ hướng tới.
 “Cảm xúc là phần thịt xương hơn cả của đời sống tâm hồn”.
- Ngay cái thực trong thơ cũng là sự thành thực của cảm xúc, là biểu hiện một cách chân thật và sinh động những gì đang diễn ra trong tâm hồn, đó là “hình ảnh thực nảy lên trong tâm hồn khi ta sống trong một cảnh huống hoặc trạng thái nào đấy”.
à Tóm lại, hình ảnh, tư tưởng, cảm xúc, cái thực của thơ đều nằm trong hệ quy chiếu của tâm hồn con người.
3. Ngôn ngữ thơ có nét khác biệt so với ngôn ngữ các thể loại văn học khác.
- Ngôn ngữ trong truyện, kí: chủ yếu là ngôn ngữ tự sự, kể chuyện,
- Ngôn ngữ trong kịch: chủ yếu là ngôn ngữ đối thoại
-  Ngôn ngữ thơ ca: có tác dụng gợi cảm đặc biệt nhờ yếu tố nhịp điệu, “Cái kì diệu ấy của tiếng nói trong thơ, có lẽ chăng ta tìm nó trong nhịp điệu (...) một thứ nhịp điệu bên trong, một thứ nhịp điệu của hình ảnh, tình ý, nói chung là của tâm hồn”.
- Xuất phát từ sự đề cao nhịp điệu bên trong, nhịp điệu của tâm hồn, Nguyễn Đình Thi quan niệm:
+ “không có vấn đề thơ tự do, thơ có vần và thơ không vần” mà chỉ có “thơ thực và thơ giả, thơ hay và thơ không hay, thơ và không thơ”.
 + Thời đại mới, tư tưởng, tình cảm mới, nội dung mới đòi hỏi một hình thức mới, điều quan trọng là dùng thơ tự do, thơ không vần, hay “dùng bất cứ hình thức nào, miễn là thơ diễn đạt được đúng tâm hồn con người mới ngày nay”.
4. Nét tài hoa của Nguyễn Đình Thi:
 Bộc lộ trong nghệ thuật lập luận, đưa dẫn chứng, sử dụng từ ngữ, hình ảnh,... để làm sáng tỏ từng vấn đề đặt ra.
- Mở đầu bài viết, dùng ngay lập luận phủ nhận để khẳng định (bác bỏ một số quan niệm có phần phiến diện về thơ- có người cho “thơ là ở những lời đẹp” lại có người cho “thơ khác với các thể văn khác ở chỗ thơ in sâu vào trí nhớ”, để nhấn mạnh đặc trưng cơ bản nhất của thơ là biểu hiện tâm hồn con người),
- từ đó triển khai các ý ngày càng cụ thể hơn, xoáy sâu vào vấn đề chính.
- Lí lẽ gắn với dẫn chứng. Cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh rất cụ thể, sinh động, gây ấn tượng mạnh:
+ “Thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm với cuộc sống. Toé lân ở những nơi giao nhau của tâm hồn với ngoại vật, trước hết là những cảm xúc”,
+  “Mỗi chữ như một ngọn nến đang cháy, những ngọn nến ấy xếp bên nhau thành một vùng sáng chung”.
5. Giá trị của bài văn:
- Việc nêu lên những vấn đề đặc trưng bản chất của thơ ca không chỉ có tác dụng nhất thời lúc bấy giờ mà ngày nay nó vẫn còn có giá trị
- Bởi ý nghĩa thời sự, tính chất khoa học đúng đắn, gắn bó chặt chẽ với cuộc sống và thực tiễn sáng tạo thi ca

II. ĐÔ - XTÔI – ÉP – XKI (Trích):

 1. Tính cách và số phận của Đô – xtoi – ép – xki:
a. Hai thời điểm đối lập trong cuộc sống:
- Thời điểm thứ nhất: kiếp sống của một kẻ lưu vong (tờ séc cuối cùng ,hiệu cầm đồ, phòng làm việc, cơn động kinh, tiền nợ à thời điểm của sự tuyệt vọng lớn nhất.
- Thời điểm thứ hai:
+ Trở về Tổ quốc, “một giây hạnh phúc tuyệt đỉnh”,
+ những giờ phút “xuất thần”,
+ niềm hứng khởi trước đám đông cuồng nhiệt.
+ Sau đó là cái chết khi “sứ mệnh đã  hoàn thành”, trong tình cảm anh em của tất cả các giai cấp và tất cả các đẳng cấp của nước Nga.
b. Những mâu thuẫn trong thiên tài Đô-xtôi-ép-xki:
- Những tình cảm mãnh liệt >< trong cơ thể yếu đuối của con bệnh thần kinh;
- Con người mang trái tim vĩ đại >< phải tìm đến những cơ hội thấp hèn, bị giày vò vì hoàn cảnh.
- Số phận vùi dập thiên tài >< nhưng thiên tài tự cứu vãn bằng lao động và tự đốt cháy trong lao động.
- Vinh quang tột đỉnh của Đốt >< cũng vẫn gắn với đau khổ.
- Người bị lưu đày biệt xứ- đau khổ một mình ->< sứ giả của xứ sở mình.
2. Cấu trúc tương phản ở nhiều cấp độ:
- Trong nội bộ một câu, hoặc giữa hai vế, giữa hai từ ngữ. Ví dụ :
+ Nước Nga tiếng gọi vĩnh cửu của niềm tuyệt vọng của ông..,
+ Lao động là sự giải thoát và là nỗi thống khổ của ông.
- Trong từng đoạn. Ví dụ :
+ Hai hệ thống hình ảnh trái ngược ở đoạn từ “Suốt đêm...tinh thần của chúng ta”.
+ Ở đây có sự đối lập: sự dằn vặt của cuộc sống hằng ngày ><  những tác phẩm đồ sộ, thế giới tinh thần.
- Sự đối lập giữa những chi tiết hèn mọn về đời thường >< với những hình ảnh cao cả khác thường của khát khao sáng tạo của thiên tài
3. Biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ:
- So sánh:
+ “tác phẩm…là rượu ngọt”,
+ “đếm các ngày như trước đây đếm cái cọc của trại giam”,
+ “trở về như một kẻ hành khuất”,
+  “lời như sấm sét”.
- Ẩn dụ:
+ “quả đã được cứu thoát, vỏ khô rụng xuống”,
+ “thành phố ngàn tháp chuông”.
à Những hình ảnh so sánh và ẩn dụ có hệ thống ở đây đều thuộc lĩnh vực tôn giáo, hoặc những lực lượng siêu nhiên.
à Mục đích: từ chỗ mô tả như một con người khốn khổ, bị chà đạp, nâng lên thành một vị thánh, một con người siêu phàm
4.  Biện pháp tô đậm chân dung văn học:
Gắn hình tượng con người trên khung cảnh rộng lớn.
- Cái nền Đô-xtôi-ép-xki xuất hiện: hình ảnh xã hội Nga đương thời.
- Thiên tài bị đè nén bởi số phận, nhưng cũng có thể tác động trở lại số phận, không chỉ số phận mình mà của cả dân tộc, thời đại: Hỉnh ảnh nước Nga ở nửa đầu và cuối đoạn trích.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây