KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN NLXH THEO YÊU CẦU

Thứ sáu - 25/09/2020 02:26
Chuyên đề viết đoạn văn nghị luận xã hội, Cách viết đoạn văn nghị luận lớp 7, Cách viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ, Cách làm đoạn văn nghị luận xã hội lớp 9, Kỹ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội, Cách làm đoạn văn nghị luận xã hội lớp 12, Viết đoạn văn nghị luận về hiện tượng đời sống, Sáng kiến kinh nghiệm viết đoạn văn nghị luận xã hội
ngữ văn 10
ngữ văn 10
Chuyên đề viết đoạn văn nghị luận xã hội, Cách viết đoạn văn nghị luận lớp 7, Cách viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ, Cách làm đoạn văn nghị luận xã hội lớp 9, Kỹ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội, Cách làm đoạn văn nghị luận xã hội lớp 12, Viết đoạn văn nghị luận về hiện tượng đời sống, Sáng kiến kinh nghiệm viết đoạn văn nghị luận xã hội

I. ÔN TẬP KIẾN THỨC CƠ BẢN

          * Điểm khác biệt giữa đề Nghị luận xã hội thông thường với đề Nghị luận xã hội 200 chữ trong kì thi THPT Quốc gia của Bộ

                   Thứ nhất: Thay đổi về cách ra đề.
      Đề bài yêu cầu bàn luận/ đánh giá về một vấn đề được đặt ra trong đề đọc hiểu. Học sinh chỉ có thể làm tốt phần nghị luận xã hội khi đã hiểu thông điệp của văn bản ở đề đọc hiểu và câu văn được trích dẫn ( nếu có).
  Thứ hai: Bị giới hạn về dung lượng.
Trước đây học sinh viết BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI, nhưng hiện nay chỉ cần viết ĐOẠN VĂN 200 TỪ ( 200 chữ ). Vì vậy thời lượng làm bài và biểu điểm bị rút ngắn, rất nhiều em gặp khó khăn về vấn đề này.

 I. Cách viết đoạn văn trong đề thi môn Ngữ văn

     1. Lí thuyết về đoạn văn:

Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, được qui ước bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng đến chỗ chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành.
   - Về hình thức : bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng đến chỗ chấm xuống dòng ( qua hàng).
  -Về nội dung: Biểu đạt một ý tương đối trọn vẹn.
  - Về cấu tạo :
    + Thường do nhiều câu tạo thành. Tuy nhiên có những ĐV chỉ có một câu thậm chí là một từ.
- Cấu trúc một đoạn văn:
+ Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề:
++ Từ ngữ chủ đề : là các từ ngữ được lặp lại nhiều lần nhằm duy trì đối tượng được biểu đạt.
++ Câu chủ đề: là câu nêu lên ý chính của toàn đoạn, mang nội dung khái quát, ý nghĩa ngắn gọn.
Thường đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn.
+ Các câu trong đoạn:
++ Có nhiệm vụ triển khai và làm rõ chủ đề của đoạn
++ Trình bày theo các phép diễn dịch, quy nạp, song hành…

2. Cách viết đoạn theo yêu cầu của đề:

a. Xác định và đáp ứng các yêu cầu của đề:
- Về nội dung: Đề bài có thể trích dẫn hoặc không trích dẫn câu văn trong phần đọc hiểu. Điều quan trọng là các em cần hiểu yêu cầu của đề và xác định hướng đi đúng đắn.
  (Thường đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn)
+ Thứ nhất: Phải xác định được Đề bài yêu cầu viết về vấn đề gì? (nội dung của đoạn văn).Đây là yêu cầu quan trọng nhất, đòi hỏi người viết phải bày tỏ quan điểm cá nhân rõ ràng.
Cụ thể: Người viết hiểu vấn đề đó là gì (giải thích), tại sao lại nói như thế (phân tích).
+ Thứ hai: Cần phải có dẫn chứng thuyết phục bằng các ví dụ cụ thể trong đời sống.
+ Thứ ba: Phải đánh giá và nêu thái độ của người viết trước vấn đề đang bàn luận. Cần nêu ra những bài học nhận thức sau khi bàn luận. Từ đó, đề xuất những giải pháp thiết thực và khả thi cho bản thân mình và tất cả mọi người.
*Đối với dạng “đề nổi” , học sinh có thể dễ dàng nhận ra phạm vi nội dung và phương pháp lập luận.
* Đối với dạng đề chìm, học sinh phải tự mày mò hướng đi.

Ví dụ :
+ Viết 1 đoạn văn 200 chữ về sự hi sinh thầm lặng của mẹ trong cuộc sống ngày hôm nay ( đề nổi) .
Học sinh dễ dàng xác định phạm vi nội dung : Thế nào là sự hi sinh thầm lặng ? biểu hiện của sự hi sinh thầm lặng ? tác dụng ? phê phán những người con bất hiếu, bài học rút ra cho bản thân, …
+ Viết 1 đoạn văn 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh chị về ý nghĩa câu chuyện được trích dẫn ở phần đọc hiểu : NGƯỜI ĂN XIN
    Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt áo quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi. Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết. Ông vẫn đợi tôi. Tôi chẳng biết làm thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tanóng hổi của ông: – Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả. Ông nhìn tôi chăm chăm đôi môi nở nụ cười: Cháu ơi,cảm ơn cháu!Như vậy là cháu đã cho lão rồi. Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó của ông.
                                                  (Theo Tuốc- ghê- nhép)
Với đề bài này, học sinh cần hiểu ý nghĩa câu chuyện, xác định vấn đề nghị luận và thao tác lập luận chủ yếu: HS tự do bày tỏ cảm nhận của bản thân:
– Có thể HS trình bày về giá trị của tình yêu thương, sự đồng cảm trong cuộc sống.
– Có thể HS trình bày bài học về một thái độ, cách ứng xử, ý thức cho và nhận của con người trong cuộc sống
– Có thể HS trình bày lời chia sẻ với những số phận bất hạnh…

*Hoặc đôi khi đề bài trích dẫn 1 câu văn trong đề đọc hiểu và yêu cầu học sinh viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ, ví dụ như đề thi minh họa của Bộ GD năm 2018
b. Tìm ý cho đoạn văn:
- Xác định sẽ viết những nội dung cụ thể gì (ý chính)?
- Ghi ra giấy nháp những ý chính của đoạn văn (theo hệ thống các thao tác lập luận).
- Việc tìm ý cho đoạn văn sẽ giúp ta hình dung được những ý chính cần viết, tránh tình trạng viết lan man dài dòng, không trọng tâm.
c. Các bước viết đoạn văn hoàn chỉnh :
- Về hình thức:
+ Thứ nhất : Đề bài yêu cầu viết đoạn văn 200 chữ, học sinh cần trình bày trong 1 đoạn văn ( không được ngắt xuống dòng ),
dung lượng an toàn khoảng 2/3 tờ giấy thi ( khoảng trên dưới 20 dòng viết tay), có thể nhiều hơn 1 vài dòng cũng không bị trừ điểm.
Đoạn văn cần diễn dạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
+ Thứ hai: Đoạn văn phải đảm bảo bố cục ba phần:
Đặt vấn đề - Giải quyết vấn đề - Kết thúc vấn đề.
+ Thứ ba: Đoạn văn sử dụng các thao tác lập luận: Giải thích – Phân tích – Chứng minh – Bình luận – Bác bỏ - Bình luận mở rộng.
Diễn đạt phải trong sáng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

- Lưu ý:
+ Cần trình bày quan điểm cá nhân nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
+ Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm,…) .
 Tóm lại:
- Để tìm được ý cho đoạn văn, cần xem xét vấn đề ở nhiều góc độ. Cách đơn giản nhất là thử đặt ra và trả lời các câu hỏi:
+ Nó (vấn đề) là gì? Nó (câu nói) như thế nào?
+ Tại sao lại như thế?
+ Điều đó đúng hay sai, hay vừa đúng vừa sai?
+ Nó được thể hiện như thế nào (trong văn học, trong cuộc sống)?
+ Điều đó có ý nghĩa gì đối với cuộc sống, với con người, bản thân…?
+ Cần phải làm gì để thực thi/hạn chế vấn đề/câu nói?
- Từ việc đặt ra và trả lời các câu hỏi trên, có thể hình dung một đoạn văn nghị luận cần được triển khai như sau:

                          CẤU TRÚC KHÁI QUÁT
- Câu mở đoạn: Giới thiệu vấn đề (khoảng 2 – 4 dòng).
- Các câu phát triển đoạn: (12 – 14 dòng). Vận dụng các thao tác:
+ Giải thích (Câu nói nêu lên vấn đề gì?)
+ Lí giải (Vì sao lại nói như thế?)
+ Dẫn chứng (Họ đã làm thế nào?)
+ Bình luận (Vấn đề đúng hay sai hay vừa đúng vừa sai?)
+ Bác bỏ (Hiện tượng trái ngược cần phê phán là gì?)
- Câu kết đoạn: Rút ra bài học. (Bản thân và mọi người cần phải làm gì?) (2 – 4 dòng)
II. MỘT SỐ DẠNG VĂN NLXH
1. Đoạn văn NLXH về một tư tưởng, đạo lí
  *MỞ ĐOẠN:
- Dẫn dắt vào vấn đề.
- Trích dẫn câu nói.
 * THÂN ĐOẠN
- Giải thích
+ Chỉ giải thích những từ ngữ, hình ảnh còn ẩn ý  hoặc chưa rõ nghĩa.
+ Nên dựa vào nôi dung  phần Đọc hiểu để giải thích ý nghĩa, tránh suy diễn tùy tiện. Bởi vì có những câu nói khi đứng độc lập thì nó có ý nghĩa khác so với nghĩa trong văn cảnh.
+ Nếu đề bài không trích dẫn câu nói thì chỉ cần giải thích ngắn gọn khái niệm/ vấn đề cần bàn luận.
- Phân tích, Bình luận:
+  Nêu quan điểm của cá nhân (thấy đúng, sai hay cả đúng cả sai). Lý giải quan điểm đó (Vì sao đúng? Vì sao sai?)
- Chứng minh
+ Minh chứng bằng các dẫn chứng, ví dụ cụ thể (Biểu hiện như thế nào?).
- Bình luận
Bước 4: Luận bàn mở rộng vấn đề: Phê phán điểm hạn chế,  phân tích mặt tích cực.  
- Vận dụng
+ Áp dụng tư tưởng đạo lí vào trong thực tế: Nêu bài học nhận thức và hành động (Cần phải làm gì?)
* KẾT ĐOẠN:
 Đưa ra một thông điệp hay một lời khuyên cho mọi người.
2. Đoạn văn NL về một hiện tượng đời sống:
* MỞ ĐOẠN:
- Dẫn dắt vào hiện tượng.
Nêu thái độ đánh giá về hiện tượng.
* THÂN ĐOẠN
- Thực trạng và giải thích (nếu có)
- Nêu rõ thực trạng, các biểu hiện cụ thể của hiện tượng trong đời sống: đang diễn ra như thế nào? Ở đâu? Khi nào?
- Nguyên nhân Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên? Bao gồm: nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân sâu xa.
- Hậu quả (xấu) & phát huy (tốt)
- Nêu thái độ đánh giá, nhận định về mặt đúng – sai, lợi – hại, kết quả – hậu quả, biểu dương – phê phán.
- Giải pháp- Biện pháp khắc phục hậu quả hoặc phát huy kết quả. (Cần phải làm gì?)
- Bài học Liên hệ bản thân, rút ra bài học nhận thức và hành động cho mình.
* KẾT ĐOẠN:  Đưa ra thông điệp hay lời khuyên cho tất cả mọi người

III. VÍ DỤ MINH HỌA
       Đề thi minh họa THPTQG năm 2017
      Leo lên đỉnh núi không phải để cắm cờ mà là để vượt qua thách thức, tận hưởng bầu không khí và ngắm nhìn quang cảnh rộng lớn xung quanh. Leo lên đỉnh cao là để các em có thể nhìn ngắm thế giới chứ không phải để thế giới nhận ra các em. Hãy đến Paris để tận hưởng cảm giác đắm chìm trong Paris chứ không phải lướt qua đó để ghi Paris vào danh sách các địa điểm các em đã đi qua và tự hào mình là con người từng trải. Tập luyện những suy nghĩ độc lập, sáng tạo và táo bạo không phải để mang lại sự thỏa mãn cho bản thân mà là để đem lại lợi ích cho 6,8 tỷ người trên trái đất của chúng ta. Rồi các em sẽ phát hiện ra sự thật vĩ đại và thú vị mà những kinh nghiệm trong cuộc sống mang lại, đó là lòng vị tha mới chính là điều tốt đẹp nhất mà các em có thể làm cho bản thân mình. Niềm vui lớn nhất trong cuộc đời thực ra lại đến vào lúc các em nhận ra các em chẳng có gì đặc biệt cả. Bởi tất cả mọi người đều như thế.
(Trích Bài phát biểu tại buổi lễ tốt nghiệp trường trung học Wellesley của thầy Hiệu trưởng David McCullough)
Câu nghị luận xã hội cho là: Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến được nêu trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu: “Leo lên đỉnh cao là để các em có thể nhìn ngắm thế giới chứ không phải để thế giới nhận ra các em.”

Gợi ý
    1.Mở đoạn
– Câu mở đoạn có thể dùng 1-3 câu để mở đoạn (giống như phần mở bài vậy). Phần này phải có cái nhìn tổng quát, khái quát được nội dung mà đề thi yêu cầu. Phải hiểu được đề thi bàn về vấn đề gì?
– Nên viết theo hướng: nêu nội dung khái quát rồi dẫn câu nói vào (hoặc không dẫn nguyên câu thì trích vào cụm từ khóa). Ví dụ theo đề trên ta có thể viết như sau:

https://www.facebook.com/images/emoji.php/v8/f9e/1/16/27a1.png  Ví dụ: Thành công luôn là khao khát của mỗi con người trên hành trình chinh phục những ước mơ và khát vọng – nhưng khi lên đến đỉnh của thành công, điều quan trọng nhất vẫn là để “ngắm nhìn thế giới” chứ không phải là để cho ai đó nhận ra mình.
2.Thân đoạn

     – Phải giải thích các cụm từ khóa, giải thích cả câu (cần ngắn gọn, đơn giản)
– Bàn luận:
+ Đặt ra các câu hỏi – vì sao – tại sao – sau đó bình luận, chứng minh từng ý lớn, ý nhỏ.
+ Đưa ra dẫn chứng phù hợp, ngắn gọn, chính xác (tuyệt đối không kể chuyện rông dài, tán gẫu, sáo rỗng)
+ Đưa ra phản đề – mở rộng vấn đề – đồng tình, không đồng tình.
+ Rút ra bài học nhận thức và hành động

          “Leo lên đỉnh núi cao là để các em có thể nhìn ngắm thế giới chứ không phải để thế giới nhận ra các em.”

* Từ việc giải thích “leo lên đỉnh núi cao”; “nhìn ngắm thế giới”; “không phải để thế giới nhận ra các em”, học sinh nêu khái quát nội dung ý kiến.
“Leo lên đỉnh núi cao” :
+ Nghĩa đen: là quá trình chinh phục những khó khăn, trở ngại trên đường đi để lên đến đỉnh núi, chiếm lĩnh điểm cao nhất của ngọn núi.
+ Nghĩa bóng: Là quá trình vượt qua những khó khăn, trở ngại về vật chất và tinh thần để đạt tới thành công, đích đến cuối cùng của cuộc hành trình, kết quả của một quá trình phấn đấu lâu dài
“Nhìn ngắm thế giới”:
+ Nghĩa đen: Đứng từ đỉnh núi nhìn ngắm cảnh vật xung quanh, quan sát toàn cảnh.
+ Nghĩa bóng: Là cách em nhìn ngắm lại hành trình đã đi qua, những thất bại và những lần vấp ngã của bản thân và của những người cùng chung hành trình với mình để từ đó rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm cho những hành trình tiếp theo.
“Thế giới nhận ra các em”: Là những thành tích của các em được mọi người ghi nhận.
“Không phải để thế giới nhận ra các em”:  Là lời khuyên các em không nên đề ra mục tiêu phấn đấu là cố gắng, nỗ lực đạt được những thành tích, những thành công để nghe người khác ca tụng, thán phục, để mọi người ghi nhớ, nể phục thành tích mà các em đạt được.
Ý nghĩa của câu nói: Tuổi trẻ cần sống và cảm nhận rõ ràng điều mình đang làm, tận hưởng cái giây phút của thực tại, chứ không phải là quan tâm người khác đang nhìn bản thân chúng ta như thế nào.
* Bàn luận:
- Leo lên đỉnh núi cao: là mục tiêu, định hướng phấn đấu của mỗi người. Ở đó thể hiện những khát vọng, hoài bão, ước mơ của tuổi trẻ. Điều đó cũng là cách để thể hiện bản thân, thể hiện bản lĩnh của mỗi người.
- Khi leo lên đến đỉnh núi, mỗi chúng ta không nên tự cho rằng mình là người duy nhất làm được điều đó hay bản thân mình đã làm được điều mà người khác không thể thực hiện. Từ đó ta có tâm lý tự cao, tự đại, cho rằng là mình hơn người khác, mình đã làm được điều đặc biệt, mình là “trung tâm” của vũ trụ. Quan niệm đó là sai lầm. Đó chính là lí do khiến chúng ta tự đánh mất mình.
- Ngược lại: Khi chúng ta đạt đến đỉnh vinh quang, đạt được những thành công chúng ta nên ngắm nhìn lại những nỗ lực, những trải nghiệm mà mình đã trải qua, những thất bại và những lần vấp ngã, chúng ta không nên “ngủ quên trên chiến thắng”. Chúng ta cần phải biết nhìn nhận lại hành trình đã đi qua, cách mà chúng ta “đứng dậy” sau những thất bại, vấp ngã để rút cho mình những bài học kinh nghiệm. Chúng ta cần biết cách chinh phục nhiều “ngọn núi” trong cuộc đời mỗi người.
- Leo lên đỉnh núi cao không phải để “thế giới nhận ra các em” là vì: Cuộc sống là muôn màu, muôn vẻ, nếu coi việc ghi được những thành tích cao để người đời ca tụng là thể hiện lối sống bằng lòng thoả mãn với những gì mình đang có mà không còn ý thức vươn lên nữa.
=>Bài học nhận thức và hành động:
- Rút ra bài học phù hợp cho bản thân.
- Làm thế nào để chinh phục những “đỉnh núi”
+ Trang bị những kiến thức rèn luyện sức khoẻ, phương pháp chinh phục những kĩ năng, kiến thức.
+ Rèn luyện ý chí, nghị lực, lòng quyết tâm và thói quen tốt mỗi ngày của bản thân.
3.Kết đoạn
– Viết kết đoạn thường kết lại bằng một danh ngôn hay câu nói nổi tiếng (Nếu được vậy, bài làm sẽ được giám khảo chú ý hơn khi chấm điểm)

IV. LUYỆN TẬP

ĐỀ 1:

Từ thông điệp của đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về lợi ích của việc đơn giản hóa cuộc sống.

a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận 200 chữ
Có đủ các phần mở đoạn, phát triển đoạn, kết đoạn. Mở đoạn nêu được vấn đề, phát triển đoạn triển khai được vấn đề, kết đoạn kết luận được vấn đề.Học sinh có thẻ trình bày đoạn vẫn theo cốch diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.
 ( Nếu HS viết từ 2 đoạn trở lên thì không cho điểm cấu trúc)
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận về một tư tưởng đạo lí: lợi ích của việc đơn giản hóa cuộc sống. c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; các phương thức biểu đạt, nhất là nghị luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động. Cụ thể:
c.1. Câu mở đoạn: Dẫn ý liên quan để nêu vấn đề cần nghị luận.
c.2. Các câu phát triển đoạn:
    - Giải thích: đơn giản hóa cuộc sống là gì? là cuộc sống đơn giản nghiêng về tính cân bằng, thư thái trong tâm hồn.
    - Bàn luận, phân tích, chứng minh :
       + Vì sao con người cần đơn giản hoá cuộc sống?
         ++ Con người được thoát khỏi gánh nặng vật chất và những căng thẳng của áp lực cuộc sống, có thể làm những điều mình thích và có sự thanh thản trong tâm hồn.
       ++ Có thời gian quan tâm đến những người thương yêu và giúp đỡ những người xung quanh. Có thời gian chăm sóc và biết quý trọng bản thân.
       ++Tạo nên sự phát triển cân bằng trong xã hội giữa người giàu và người nghèo, cân bằng chỉ tiêu giữa các tầng lớp,...

       + Bàn luận mở rộng:
           ++ "Sống đơn giản” không phải là sống nghèo khó, khổ sở, không hoàn toàn quan tâm đến vật chất.
           ++ "Sống đơn giản” không có nghĩa là “ở ẩn”, thoát li cuộc sống, không đóng góp vào sự phát triển của xã hội. Cần cân bằng giữa cuộc sống vật chất và tinh thần, giữa cống hiến cho đất nước, gia đình với việc thư giãn cho tâm hồn, quan tâm, chăm sóc đến bản thân (đưa ra một số dẫn chứng cụ thể).
 c.3. Câu kết đoạn: đưa ra bài học nhận thức và hành động phù hợp: Mỗi người cần nhận thức được ý nghĩa của việc đơn giản hoá cuộc sống; rèn luyện phong cách sống giản dị, biết tiết kiệm chứ không keo kiệt hoặc lãng phí…

     ĐỀ 2:

Viết đoạn văn 200 chữ bày tỏ suy nghĩ của anh/ chị  về ý nghĩa của câu nói: Thành công hay thất bại ngày hôm nay không nằm ở những khó khăn chúng ta gặp phải, mà là ở cách chúng ta đương đầu với chúng như thế nào được trích ở phần Đọc hiểu.
GỢI Ý
1. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; các phương thức biểu đạt, nhất là nghị luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động. Cụ thể:
a.. Câu mở đoạn: Dẫn ý liên quan (có thể lấy ý thể hiện trong phần Đọc hiểu ) để nêu vấn đề cần nghị luận.
b.. Các câu phát triển đoạn:
    - Giải thích: Thành công là những kết quả mà ta đạt được từ những nỗ lực, cố gắng và phấn đấu không ngừng; Thất bại chính là những lần vấp ngã, là khi công việc của ta gặp khó khăn, không có kết quả tốt như mong đợi. Thực chất ý cả câu nói: cách đương đầu với khó khăn quyết định sự thành công hay thất bại.
    -Bàn luận, phân tích, chứng minh :
      + Vì sao Thành công hay thất bại ngày hôm nay không nằm ở những khó khăn chúng ta gặp phải, mà là ở cách chúng ta đương đầu với chúng như thế nào?
         ++ Cuộc sống vô cùng phức tạp, đa dạng và phong phú, thậm chí đầy nghịch lí. Con người có thể đứng trước thuận lợi hoặc khó khăn trên hành trình đi tìm hạnh phúc của mình;
         ++ Khó khăn dù nhỏ mà không biết cách giải quyết thì sẽ gặp thất bại; khó khăn dù lớn nhưng biết cách đối diện để tháo gỡ thì sẽ nắm lấy thành công.
         ++Thành công không phải là đích đến cuối cùng, thất bại cũng chẳng phải vực sâu, đó chỉ là cơ hội để ta đứng vững hơn trên con đường sắp bước.
        + Ý nghĩa của cách chúng ta đương đầu với những khó khăn:
         ++ Khi biết cách đối mặt với những thử thách trong cuộc sống, ta sẽ có động lực để rèn luyện bản thân ngày càng vững vàng, trưởng thành trước sóng gió để về đích nhanh nhất có thể.
        ++Biết cách đương đầu với khó khăn, con người sẽ rèn được sự tự tin vào khả năng vượt qua của mình, trong lòng cảm thấy nhẹ nhàng và dễ dàng tìm ra cách để giải quyết những vấn đề khó khăn đó. 
        + Bàn luận mở rộng: Khi có thành công, không nên rơi vào chủ quan. Khi gặp thất bại, không nên nản chí, đầu hàng hoàn cảnh. Ngoài ra cũng cần phê phán những người thiếu bản lĩnh, nhụt chí khi đối diện với khó khăn thử thách trong cuộc sống.
c.. Câu kết đoạn: đưa ra bài học nhận thức và hành động phù hợp: Mội người cần nhận thức việc đương đầu với khó khăn là điều cần thiết. Vì thế, cần phải học tập, rèn luyện, nhất là rèn kĩ năng sống để xử lí những tình huống xảy ra trong cuộc sống.

ĐỀ 3

Anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý kiến: “Khiêm tốn là một điều không thể thiếu cho những ai muốn thành công trên đường đời”.
*  Giới thiệu vấn đề
Giải thích vấn đề
- Khiêm tốn: là đức tính nhã nhặn, nhún nhường, không đề cao cái mình có và luôn coi trọng người khác.
- Thành công là là đạt được kết quả như mong muốn, thực hiện được mục tiêu đề ra.
 Khiêm tốn và thành công có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chỉ khi bạn có lòng khiêm tốn mới đạt được thành công thực sự trên đường đời.
*Bàn luận vấn đề
- Vì sao phải khiêm tốn mới đạt được thành công thực sự.
+  Cá nhân dù có tài năng đến đâu cũng chỉ là giọt nước bé nhỏ giữa đại dương bao la. Bởi vậy cần học nữa, học mãi để làm đầy, làm phong phú vốn tri thức, sự hiểu biết của bản thân.
 + Chúng ta đạt được thành công mà không khiêm tốn dẫn đến thói tự cao, tự đại, đề cao thái quá thành tích của bản thân, không chịu tiếp tục cố gắng, tất yếu sẽ dẫn đến thất bại.
+  Khi đạt được thành công bước đầu, nếu có lòng khiêm tốn, không ngừng học hỏi thêm chúng ta sẽ đạt được thành công lớn hơn, vinh quang hơn.
- Ý nghĩa của lòng khiêm tốn:
+ Khiêm tốn là biểu hiện của con người biết nhìn xa, trông rộng.
+ Khiêm tốn giúp hiểu mình, hiểu người.
* Mở rộng vấn đề và liên hệ bản thân.
+ Phê phán những kẻ thiếu khiêm tốn, luôn tự cao tự đại, cho mình tài giỏi hơn những người khác.
+ Học lối sống khiêm tốn giúp chúng ta ngày càng hoàn thiện mình và không ngừng phấn đấu vươn lên để đạt được thành công trong cuộc sống.

ĐỀ 4:

Anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) về khả năng trì hoãn những mong muốn tức thời của bản thân để vươn tới thành công.

                                                                        GỢI Ý
- Giải thích vấn đề:
+ Khả năng trì hoãn những mong muốn tức thời: Cái có thể làm được trong điều kiện nhất định là làm chậm lại, kéo dài những ham muốn, mong muốn đang diễn ra ngay lúc đó.
+ Vấn đề nghị luận: là khả năng kiềm chế cám dỗ, ham muốn tức thì của bản thân để đạt được kết quả, mục tiêu xa hơn.
- Bàn luận:
+ Cuộc đời ẩn chứa rất nhiều cám dỗ ngọt ngào mà con người khó vượt qua, dễ dẫn đến ham muốn tức thì, hưởng thụ tạm thời và dễ dẫn đến thất bại.
+ Nếu biết vượt qua những cám dỗ tức thì đó có thể đưa con người tới những mục tiêu xa hơn, những kết quả to lớn hơn.
- Bài học: Để làm được điều đó đòi hỏi con người phải hiểu rõ điểm yếu, điểm mạnh của bản thân, phải có mục tiêu, kế hoạch và quyết tâm hành động, phải biết kiên nhẫn, tỉnh táo trước cám dỗ,…

ĐỀ 5:

Anh / chị hãy viết một đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng 200 chữ )  bàn về lẽ sống đẹp cho giới trẻ ngày nay.
GỢI Ý
- Giải thích được  lẽ sống đẹp là gì (tuân theo các chuẩn mực đạo đức pháp luật, phát huy được năng lực sở trường của bản thân, sống nhân hậu, sống có ích,..)
- Bàn luận được về vai trò, giá trị của lẽ sống đẹp  :
+ Sống đẹp mang lại hạnh phúc cho bản thân và những điều tốt đẹp cho người thân, bạn bè, đồng nghiệp, cộng đồng nói chung (dẫn chứng..)
+ Sống đẹp không đồng nghĩa với một cuộc sống giàu có dùng tiền bạc để làm từ thiện nhằm đánh bóng tên tuổi , hay một cuộc sống nổi tiếng mà tai tiếng,... (dẫn chứng..)
- Rút ra được bài học cho bản thân – làm thế nào để hình thành nếp sống đẹp
 

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây