KHÁI QUÁT VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM

Thứ sáu - 25/09/2020 02:36
Khái quát văn học dân gian Việt Nam, Khái quát văn học dân gian Việt Nam từ the kỉ 10 đến the kỉ 19, Khái quát văn học dân gian Việt Nam Violet, Các tác phẩm văn học dân gian lớp 10, Khái niệm văn học dân gian, Văn học dân gian Việt Nam, Văn học dân gian là gì, Khái quát văn học Việt Nam lớp 10
ngữ văn 10
ngữ văn 10
Khái quát văn học dân gian Việt Nam, Khái quát văn học dân gian Việt Nam từ the kỉ 10 đến the kỉ 19, Khái quát văn học dân gian Việt Nam Violet, Các tác phẩm văn học dân gian lớp 10, Khái niệm văn học dân gian, Văn học dân gian Việt Nam, Văn học dân gian là gì, Khái quát văn học Việt Nam lớp 10

I. Khái quát đặc trưng, giá trị của văn học dân gian ( HS xem lại bài Khái quát VHDG   trong sgk và nhắc lại)

  1. Đặc trưng:

là những đặc điểm, những biểu hiện riêng tiêu biểu riêng biệt của bản chất sự vật, đối tượng, phân biệt với đối tượng, phân biệt với đối tượng sự vật khác
   - VHDG có ba đặc trưng cơ bản:
+ Tính truyền miệng
+ Tính sáng tác tập thể
+ Tính thực hành

2.Những giá trị cơ bản của VHDG

Theo GS.Đinh Gia Khánh thì “Văn học dân gian vừa là cuốn bách khoa của đời sống, vừa là một phương tiện giáo dục những phẩm chất tốt đẹp nhất của con người như tình yêu Tổ quốc, lòng dũng cảm, tinh thần lạc quan, lòng ngay thẳng, ý thức về điều thiện và tinh thần đấu tranh chống điều ác...có thế coi văn học dân gian như là một bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống của nhân dân lao động, được ghi lại bằng một phương thức nghệ thuật độc đáo. Cho nên văn học dân gian của mỗi dân tộc là một trong những thành tựu văn hóa, thành tựu nghệ thuật quan trọng nhất làm cho cơ sở cho việc xây dựng và phát triển nền văn hóa và nghệ thuật của dân tộc đó” (Văn học dân gian Việt Nam, NXBGD 1997, Tr 49).

2.1. VHDG là kho trí thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc(Giá trị nhận thức).

    -Văn học dân gian được xem là cuốn bách khoa toàn thư hay cuốc sách giáo khoa về đời sống vì nó cung cấp những trí thức cần thiết, cơ bản về thiên nhiên và xã hội, nó lưu giữ trí tuệ, tình cảm, những kinh nghiệm và quan niệm về tín ngưỡng, vũ trụ, phong tục tập quán của nhân dân ta qua nhiều đời.
 +  Thần thoại cung cấp nhận thức về con người thời nguyên thủy, sự hình thành vũ trụ, con người, loài vật cho dù những nhận thức này con thô sơ, mông muội.
+ Truyền thuyết lại thể hiện ý thức về lịch sử của nhân dân lao động, ca ngợi chiến công của những người anh hùng, đánh giá nhân vật lịch sử hoặc liên quan đến lịch sử theo quan niệm của nhân dân.
+ Truyện cổ tích thường hướng con người đến những cảnh đời bất hạnh, những quan niệm sống ở hiền gặp lành, ác giả ác báo và cả những ước mơ, khát vọng đổi đời, động viên con người sống vui vẻ, lạc quan.
+ Tục ngữ là kho báu về kinh nghiệm trong sản xuất, đối nhân xử thế và đấu tranh xã hội.
+ Ca dao lại mang đến những khám phá về đời sống tinh thần phong phú của con người. Truyện cười, truyện ngụ ngôn, câu đối... ngoài tính triết lí nhân sinh còn mang đến cho người đọc những gì thuộc về trí tuệ con người.
--> Nói văn học dân gian là cuốn bách khoa toàn thư là không sai bởi vì dường như những gì có trong cuộc sống đều có trong tác phẩm văn học dân gian. Khi tiếp cận với tác phẩm văn học dân gian chúng ta có thêm nhiều hiểu biết phong phú và đa dạng về đất nước, lịch sử dân tộc và con người Việt Nam từ ngàn xưa.
- Tri thức ấy lại được trình bày bằng nghệ thuật ngôn từ của nhân dân, nó có sức hấp dẫn với mọi người.

2.2. VHDG có giá trị giáo dục sâu sắc về đạo lí làm người.

- Văn học dân gian mang lại cho con người nhiều bài học đạo lí, lẽ sống về cách ứng xử làm người. Văn học dân gian thường được ví như bầu sữa ngọt, nuôi dưỡng những phẩm chất ưu tú nhất của con người như lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng, tinh thần lạc quan, dũng cảm, đức chính trực, tinh thần nhân đạo. Nó làm cho con người thêm yêu quê hương, Tổ quốc, biết gắn bó với những người thân yêu, ruột thịt, đoàn kết với làng xóm trong nghĩa đồng bào.

2.3. VHDG có giá trị thẩm mĩ to lớn

- Văn học dân gian có tác dụng to lớn trong việc bồi dưỡng, phát triển nhận thức của con người về cái đẹp. Cái đẹp ấy thể hiện trên nhiều phương diện, đó là cái đẹp tỏa ra từ cuộc sống bình dị của con người, từ cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng. Đó cũng là cái đẹp ở hiện tượng ngôn từ, âm hưởng, nhịp điệu, từ ngữ, các kiểu phô diễn và cách thức thể hiện... Có thể nói văn học dân gian đã định hướng phát triển cho nhận thức về cái đẹp của con người.

2.4. Giá trị tạo nền cho văn học dân tộc:

- Khi chưa có chữ viết văn học dân gian đã giữ một vai trò quan trọng trở thành bộ phận chủ đạo và duy nhất của văn học dân tộc.
- Khi văn học viết xuất hiện thì văn học dân gian vẫn tồn tại tiếp tục phát triển cả khi đã có chữ viết, người dân ít có điều kiện tiếp xúc với những thành tựu của văn học viết, họ vẫn có nhu cầu sáng tác và thưởng thức bằng truyền miệng.
--> Vì vậy bộ phận văn học dân gian ra đời sớm hơn so với văn học viết nhưng vẫn tồn tại và phát triển đến ngày nay. Văn học dân gian có tác động mạnh mẽ đến văn học viết. Đặc biệt là với tác phẩm văn học chữ Nôm, các nhà văn học được nhiều từ cổ tích, các nhà thơ học được nhiều ở ca dao...
- Văn học dân gian góp phần quyết định trong việc xây dựng ngôn ngữ văn học viết, sáng tạo nên những thể thơ dân tộc như lục bát, song thất lục bát, hát nói...
- Đề tài, cốt truyện của văn học dân gian đã trở thành chất liệu để các tác giả văn học viết sáng tạo ( Thánh Tông di cảo, Truyền kì mạn lục...). Văn học viết khai thác giá trị nôi dung và phương diện nghệ thuật của văn học dân gian. Các nhà thơ học được ở ca dao cách thể hiện tình cảm, các nhà văn học ở truyện cổ tích cách xây dựng cốt truyện.

II. Luyện đề

   Đề bài:   Ảnh hưởng sâu rộng và tác động  tích cực của văn học dân gian với văn học dân tộc?

Gợi ý

*Mở bài:

          Nói đến vai trò của VHDG cũng tức là nói đến ảnh hưởng sâu rộng và tác động tích cực đến nền văn học dân tộc trên nhiều lĩnh vực nội dung và hình thức, tính chất và diện mạo của nền văn học dân tộc. Như nguồn nước mát lành văn học dân gian đem đến cho văn học viết VN cảm hứng về hồn dân tộc, về bản sắc VN, về những con người cần cù nhân hậu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước để khơi nguồn sáng tác cho các văn nhân thi sĩ. VHDG góp phần làm nên tính dân tộc đậm đà và tính nhân dân sâu sắc trong văn học cổ điển và hiện đại..

*Thân bài:

- VHDG chính là nền tảng của VHV và có tác động lớn đến sự hình thành và phát triển của VHV, là nguồn cảm hứng dồi dào, tiếp thêm chất liệu và cảm hứng sáng tạo cho văn học viết.
* Về phương diện nội dung:
           VHDG cung cấp cho các nhà văn của mọi thời đại những quan niệm xã hội, đạo đức của nhân dân lao động, của các dân tộc; cung cấp những tri thức hữu ích về tự nhiên xã hội, góp phần quan trọng về sự hình thành nhân cách con người. VHDG bảo tồn, phát huy những truyền thồng tốt đẹp của dân tộc như: truyền thống yêu nước, tinh thần hướng thiện, trọng nhân nghĩa, giàu tình thương,...
Âm vang hào hùng của Thanh Gióng, Truyền thuyết Hồ Gươm như còn ngân vang mãi trong thơ “Thần” của LTK, Hịch tướng sĩ của TT, Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi,Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu...sau này là Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh. Cho đến những ngày chống Mỹ cứu nước âm vang ấy vẫn hào hùng trong thơ Chế Lan Viên:
Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt
Mỗi con sông đều muốn hóa Bạch Đằng
(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng)
Tình thương DG thắm đỏ trong Trầu cau, thủy chung trong Sọ dừa, đậm đà trong ca dao tục ngữ (thương người như thể thương thân lá lành đùm lá rách)...đã khơi dòng văn học viết chảy mạnh thành tiếng kêu đứt ruột trong Truyện Kiều, tiếng nói đòi hạnh phúc lứa đôi trong Chinh phụ ngâmCung oán ngâm, tiếng nói nhân nghĩa trong Lục Vân Tiên...và biết bao tác phẩm giàu tính nhân văn và tính nhân đạo của thời hiện đại. Sự tiếp nối thể hiện trong nhiều tác phẩm của nhiều tác giả. cái “tiếng thương” của Nguyễn Du trong Truyện Kiều là do dân gian bồi đắp: Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày. Tình thương của Tố Hữu sau này cũng đậm đà như tình thương trong ca dao:
Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu!
(Bầm ơi)
- Tính GD thể hiện ở chỗ dạy cho con người tinh thần quý trọng lao động tình nghĩa thủy chung và yêu nước. VD: lấy dẫn chứng câu thơ NKhoa Điềm có vận dụng ba câu ca dao.....
-  Đề tài tiêu biểu trong văn học dân gian tiếp tục được lựa chọn trong văn học viết như: Số phận người phụ nữ, thân phận người lao động nói chung, tình yêu đôi lứa, những kinh nghiệm sống quý báu, đặc biệt ngợi ca tình cảm gắn bó với quê hương, đất nước,... Gắn liền với đề tài này là tư tưởng nhân ái: Văn học dân gian đề cao tình cảm yêu thương con người nhất là thân phận người phụ nữ, người lao động cùng khổ,...từ truyện của N.Dữ, N.Du hay những trang thơ của Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, HXH đề tài người phụ nữ được thể hiện ở những góc độ khác nhau: kiếp hồng nhan bạc mệnh; cảnh lấy chồng chung; nạn nhân chiến tranh...tất cả đều chân thật mà thống thiết...

- Nguồn cảm hứng : Văn học dân gian thường lấy nguồn cảm hứng từ thiên nhiên, cuộc sống xã hội, lao động sản xuất,... .
* Về phương diện nghệ thuật:
 VHDG cung cấp cho các nhà văn một kho tàng các truyền thống nghệ thuật dân tộc, từ ngôn ngữ đến các hình thức thơ ca, các phương pháp xây dựng nhân vật, hình ảnh, cách nói, các biện pháp tu từ, thể loại, chất liệu dân gian,...
- Ngôn ngữ : ngôn ngữ văn học dân gian mang đậm tính triết lí, giàu chất thơ song hình thức biểu đạt lại gần gũi, dễ hiểu. Người dân lao động thường dùng những cách nói trong giao tiếp hàng ngày để diễn đạt tư tưởng, tình cảm cũng như đúc kết kinh nghiệm sống.
- VD : Truyền thống lấy lá trầu để làm ngôn ngữ bày tỏ tình cảm :
“Bây giờ em mới hỏi anh

Trầu vàng nhá với cau xanh thế nào ?
“Cau xanh nhá với trầu vàng,

Tình anh sánh với duyên nàng đẹp đôi.”
→ Tiếp nối truyền thống ấy, Hồ Xuân Hương cũng sử dụng ngôn ngữ trầu cau để bày tỏ khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội phong kiến  (Mời trầu)
- Hình ảnh: Trong văn học dân gian phần lớn là cảnh thiên nhiên hay sinh hoạt rất quen thuộc với người bình dân. Trong cuộc sống hàng ngày, người dân lao động rất thân thuộc với mái đình, cây đa, bến nước,... vì vậy, trong tình yêu đôi lứa, trong nỗi nhớ quê hương,... người lao động đã tái hiện lại những không gian thân thuộc ấy trong lời ca của mình :
“Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”.

(Ca dao)
→ Rau muống, con thuyền,... cũng là những hình
 ảnh không thể thiếu trong thơ Nguyễn Trãi
“...Ao cạn vớt bèo cấy muống,

Đìa thanh phát cỏ ương sen

Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc,

Thuyền chở yên hà nặng vạy then...”

(Thuật hứng 24 - Nguyễn Trãi)
- Cách nói : Các hình thức lặp lại là đặc trưng nghệ thuật tiêu biểu trong ca dao: lặp lại kết cấu, hình ảnh, lặp lại dòng thơ mở đầu hoặc một từ, một cụm từ,...

Ví dụ
 - Vì thuyền, vì bến, vì sông

Vì hoa nên bận cánh ong đi về.

 - Còn non còn nước còn trời

Còn cô bán rượu còn người say sưa.

 (Ca dao)
Trong “Truyện Kiều” (Nguyễn Du) cũng có những câu thơ có kiểu dùng từ tương ứng:
+ Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa

+ Còn non, còn nước, còn dài

Còn về còn nhớ đến người hôm nay
- Các biện pháp tu từ : Văn học dân gian thường sử dụng các biện pháp tu từ như: so sánh, ẩn dụ, nhân hoá,... để giúp hình dung một cách cụ thể thông qua những hình ảnh quen thuộc như : hạt mưa, tấm lụa đào, cái giếng, cây đa, bến nước, con thuyền, con đò,... 
- Trong ca dao :
“Thuyền về có nhớ bến chăng ?

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”.

“Lênh đênh một chiếc thuyền tình

Mười hai bến nước biết gửi mình vào đâu”.
→ “Thuyền - bến” còn là nguồn cảm hứng của các nhà thơ giúp họ sáng tác nên   những tác phẩm mang đậm tính truyền thống như trong thơ Xuân Diệu :
“Tình giai nhân: bến đợi dưới cây già

Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt”.
Hay với sự cách tân của Chế Lan Viên “thuyền - bến” lại là “Buổi sáng em xa chi

Cho chiều, mùa thu đến

Để lòng anh ghé bến
Nghe thuyền em ra đi”.
- Về thể loại:  Nhiều thể loại, thể thơ  của văn học viết được xây dựng và phát triển dựa trên sự kế thừa các thể loại, thể thơ của văn học dân gian:
Về văn xuôi: Truyện cổ dân gian Việt Nam với nhiều thể loại phong phú, đặc biệt là thần thoại , truyền thuyết , cổ tích đã trở thành đề tài cho những tác phẩm văn xuôi chữ Hán sớm nhất của nước ta. Các tác giả Việt Điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục,,… chính các thể loại truyện cổ dân gian đã tạo nên thể loại “ truyền kì”,  “ chí quái” trong văn học viết trung đại.
+ Về văn vần nói chung:
          Hơn 90% số bài ca dao sử dụng thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể. Khi thể thơ lục bát và song thất lục bát do nhân dân ta sáng tạo ra được các nhà thơ dân tộc tài năng sử dụng để viết nên những truyện thơ, những khúc ngâm bằng tiếng nói dân tộc thì văn học Việt Nam bước vào thời kì hoàng kim bậc nhất trong văn học trung đại ( nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX). Truyện Kiều; Truyện Hoa tiên. Lục Vân Tiên; Chinh phụ ngâm (Bản dịch), Cung oán ngâm khúc là những minh chứng hùng hồn cho khả năng biểu hiện kì diệu của các thể thơ dân tộc vốn chỉ được dùng để viết những câu ca tương đối ngắn của dân gian.
           Trong tư cách một thể thơ dân gian, thể ca dao -theo Nguyễn Đình Chú- được Dương Khuê (1839-1902) sử dụng để viết nên bài:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ , canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói toả ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái , mặt gương Tâp Hồ
và các nhà thơ thế kỉ XX sử dụng để viết những bài ca dao mới. Á Nam Trần Tuấn Khải đã đóng góp vào kho tàng ca dao dân tộc  nhiều bài ca dao mới mà nổi tiếng nhất là bài:
          “ Rủ nhau xuống bể mò cua
          Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
           Em ơi chua ngọt đã từng
       Non xanh nước bạc xin đừng quên nhau.
Từ thời kì Thơ Mới ( 1932-1945) trở đi, thể thơ lục bát dân tộc tiếp tục được các nhà thơ Mới và các nhà thơ sau Cách mạng tháng Tám sử dụng để viết nên những bài thơ có sức sống lâu bền. Thơ Đồng Đức Bốn là ví dụ tiêu biểu cho việc kế thừa, bảo tồn giá trị thơ lục bát:
Chăn trâu đốt cỏ trên đồng
Rạ rơm thì ít gió đông thì nhiều.
Mải mê đuổi một con diều
Củ khoai nướng để cả chiều thành tro
 
- Chất liệu dân gian : Các nhà thơ đã sử dụng rất linh hoạt chất liệu dân gian vào tác phẩm của mình.  Nhiều tác phẩm , nhiều hình tượng, từ ngữ do văn học dân gian tạo nên là nguồn cảm hứng , là thi liệu , văn liệu của văn học viết xuyên suốt thời trung đại và hiện đại

Việc học tập, vận dụng ca dao tục ngữ, thành ngữ dân gian vào các sáng tác đặc biệt là các sáng tác bằng tiếng nói dân tộc không chỉ có giá trị về phương diện nghệ thuật ngôn từ mà còn là một hành vi văn hoá thể hiện sâu sắc lòng yêu nước và tự hào dân tộc.
Trong Quốc âm thi tập Nguyễn Trãi đã vận dụng thuần thục lời ăn tiếng nói dân gian, từ thành ngữ, tục ngữ, ca dao- dân ca, đến các hình ảnh hình tượng trong văn học dân gian... Không chỉ tồn tại trong ý thức, những nhà thơ trung đại và hiện đại đã vận dụng một cách sáng tạo ngôn ngữ và nghệ thuật ưu tú của văn học dân gian vào sáng tác của mình.
Câu thơ :“Tay ai thì lại làm nuôi miệng

Làm biếng ngồi ăn lở núi non.”
 (Nguyễn Trãi)
→ Gợi liên tưởng tới 2 câu tục ngữ :
 “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”, “Miệng ăn núi lở”. Chính vì thế , những kinh nghiệm được Nguyễn Trãi nêu ra trong bài thơ rất gần gũi với dân gian, dễ được nhân dân tiếp nhận và qua đó phản ánh cốt cách thân dân của nhà yêu nước vĩ đại  xứng danh “ Kinh bang hoa quốc cổ vô tiền” này.
         Không một nhà văn, nhà thơ, nhà văn hoá lớn nào của nước ta không khẳng định, tôn vinh giá trị bất hủ của văn học dân gian. Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du từng xác nhận “ Thôn ca sơ học ma tang ngữ” (Từ nhỏ học lời người trồng dâu, trồng đay qua những bài hát nơi thôn xóm). Hồ Chí Minh khẳng định văn học dân gian “ là những hòn ngọc quý”.
          Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương cũng đã sử dụng rất sáng tạo ngôn ngữ và hình tượng nghệ thuật văn học dân gian và ngược lại nhân dân cũng mượn nhiều câu trong Truyện Kiều kiệt tác của Nguyễn Du và trong thơ Hồ Xuân Hương, hoặc để nguyên  hoặc sửa đi ít nhiều, để đối đáp , gửi gắm tâm sự của mình:
Thương nhớ người xa vắng, ca dao có câu:
“ Ai đi muôn dặm non sông
Để ai chất chứa sầu đong vơi đầy”.
Nói về tâm sự kẻ ở người đi, nỗi chia li ray rứt, ca dao có câu:
“ Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng”,…
Truyện Kiều cũng có những câu:
“ Sầu đong càng lắc càng đầy
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê”
“ Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiến nửa soi dặm trường
           Nhiều trường hợp nhà thơ tách thành ngữ, tục ngữ ra từng bộ phận và xen vào những yếu tố phụ hoặc để nhấn mạnh  ý nghĩa của thành ngữ , tục ngữ hoặc để làm cho nó phù hợp với vần điệu câu thơ. Những thành ngữ “ trong ấm ngoài êm”, ‘ tình sông nghĩa bể”, “ khổ tận cam lai’  đựoc dùng như thế trong những câu thơ:
-        Nàng rằng non nước xa khơi
Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm
-        Một nhà sum họp trúc mai
Càng sâu nghĩa bể càng dài tình sông
-        Tẻ vui bởi tại lòng này
Hay là khổ tận đến ngày cam lai
Đặc biệt, Truyện Kiều có những câu thơ không thấy dấu vết cụ thể của ca dao dân ca nhưng trong hơi hướng ai cũng nhận ra ảnh hưởng của chúng. Ca dao, tục ngữ, thành ngữ và lời ăn, tiếng nói hằng ngày đi vào thơ Nguyễn Du, trở thành của Nguyễn Du chan hoà tan biến trong phong cách của nhà thơ.
Từ Truyện Kiều các nhân vật Thuý Kiều , Kim Trọng đã đi vào đời sống nhân dân rộng lớn. Cô gái đồng quê đã có thể ví có thể biểu lộ tâm trạng mình bằng câu ca
“ Sen xa hồ , sen khô, hồ cạn .
Liễu xa đào, liễu ngả, đào nghiêng.
Em xa anh như bến xa thuyền
Như Thuý Kiều xa Kim Trọng biết mấy niên cho tái hồi”.
          Hồ Xuân Hương, “bà chúa thơ Nôm”,  cũng học tập truyền thống ngôn ngữ và nghệ thuật ở thành ngữ, tục ngữ, ca dao một cách đậm nét và giàu sáng tạo.
          Hình ảnh “ quả cau nho nhỏ- cái vỏ vân vân” được Hồ Xuân Hương đưa vào bài thơ “ Mời trầu’ một cách duyên dáng, tinh tế: “ Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi/ Này của xuân Hương mới quệt rồi
          Hồ Xuân Hương làm trạng sư biện hộ cho người phụ nữ “ lỡ dại” “ Cả nể cho nên hoá dở dang…….Không có nhưng mà có mới ngoan” cũng bằng những lí lẽ bắt nguồn từ văn học dân gian “ Không chồng mà chửa mới ngoan/ Có chồng mà chửa, thế gian sự thường”. Những thành ngữ ‘chịu đấm ăn xôi”, “làm mướn không công” đều , về ý hoặc về lời, được sử dụng đắc và sáng tạo trong thơ Hồ Xuân Hương:
- Cố đấm ăn xôi , xôi lại hỏng
                    Cầm bằng làm mướn , mướn không công ( Lấy lẽ)
        +  Cuối thế kỉ XIX, hai đại biểu ưu tú cuối cùng của văn học trung đại Việt nam là Nguyễn Khuyến và Tú Xương cũng là những bậc thầy trong việc vận dụng lời ăn tiếng nói dân gian vào thơ , phú, câu đối. Các tác giả đã sử dụng các thi liệu dân gian một cách nhuần nhuyễn, sáng tạo:
-         “Nhà chỉn cũng nghèo thay! Nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng, tất tả chân nam đá chân chiêu vì tớ đỡ đần trong mọi việc.
          Bà đi đâu vội mấy! Để cho lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành , quần buông lá toạ, gật gù tay đũa chạm tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm ( Nguyễn Khuyến)
-        “ Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công”
                        ( Thương vợ - Tú Xương)
+  Trong văn học hiện đại, các tác giả Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận , Chế Lan Viên,…cũng luôn khẳng định vai trò to lớn của văn học dân gian đối với các sáng tác văn học để văn học thực sự là văn học hướng về quảng đại quần chúng công nông binh
              Trong văn thơ và trong lời nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dùng những cách nói quen thuộc gần gũi với mọi tầng lớp nhân dân như gan vàng dạ sắtanh em ruột thịtsum họp một nhàchân đồng vai sắt, chung lưng đấu cật đúng chỗ cần thiết. Nhiều trường hợp Người hoán cải cho phù hợp với văn cảnh, với nội dung mới nhưng ý vị thành ngữ , tục ngữ vẫn rõ rệt. Trong Di chúc , Người đã để lại một câu thơ khắc sâu vào tâm khảm mọi người:
“ Còn non , còn nước , còn người
Thắng giặc Mĩ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”
          Tố Hữu , cánh chim đầu đàn của thơ ca cách mạng Việt Nam đã vận dụng rất thành công VHDG trong các bài thơ của mình khiến cho thơ ông dễ đi vào trái tim quần chúng cách mạng. Nhạc điệu của nhiều bài thơ Tố Hữu là nhịp điệu của những điệu hò xứ Huế, của những câu hát đối đáp giao duyên truyền thống. Bài thơ Việt Bắc , kết tinh nghệ thuật thơ Tố Hữu trong giai đoạn chín năm kháng chiến chống Pháp đựoc cấu tứ theo kiểu hát đối đáp giao duyên với nhưng đại từ “mình”, “ ta” ngọt ngào tha thiết:
                                “ Mình về mình có nhớ ta
   Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng?
            Mình về mình nhớ ta không
Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn?
          Tố Hữu sử dụng rất nhiều thành ngữ, tục ngữ dân gian trong sáng tác của mình
Dù ai nói ngả , nói nghiêng
Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân
                                  Dù ai rào giậu ngăn sân
Lòng ta vẫn vững là dân Cụ Hồ
          Nhiều tích truyện, nhân vật trong truyện cổ dân gian được các nhà thơ hiện đại lấy làm đề tài sáng tác . Tố Hữu viết về Mị Châu, Anh Ngọc viết Thị Mầu, Đỗ Trung Lai viết Thị Kính , Thị Mầu; Ngô Quân Miện viết Nghe khúc hát Trương Chi …và đều kết tụ những bài học nhân sinh đầy ý nghĩa. Xin dẫn ra đây một vài câu thơ tiêu biểu:
           “ ….ngày xưa chuyện Mị Châu
              Trái tim lầm chỗ để trên đầu
               Nỏ thần vô ý trao tay giặc
               Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu” ( Tố Hữu)
          “ Những cánh màn đã khép lại đằng sau
          táo vẫn rụng sân đình không ai nhặt
           bao Thị Mầu đã trở về đời thực
           Vị táo còn chua mãi ở đầu môi” ( Thị Mầu – Anh Ngọc)
            “ Anh là ai? Hỡi chàng Trương?
               Mờ sương tiếng hát , mờ sương mặt người
               Dẫu là anh cũng là tôi
               Dẫu ai thì cũng là người đang yêu” ( Ngô Quân Miện)
        Tóm lại, hơn mười thế kỉ hình thành và phát triển, bộ phận văn học thành văn Việt Nam đã gắn bó song hành và chịu ảnh hưởng sâu sắc văn học dân gian Việt Nam trên nhiều cấp độ , phương diện. Chính điều đó đã tạo nên tính nhân dân và tính dân tộc đậm đà cho bộ phận văn học này. Mặt khác,  chính các nhà thơ , nhà văn đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng của các sáng tác dân gian. Nhiều tác phẩm của họ được dân gian hoá, làm phong phú thêm kho tàng văn học dân gian các dân tộc. Các tác giả dân gian cũng học tập được nhiều điều bổ ích từ sáng tác của các nhà văn nhà thơ chuyên nghiệp. Họ đã khai thác không ít điển cố , điển tích, từ ngữ , hình ảnh…trong văn học viết để đưa vào các bài vè , câu hát …. Mối quan hệ và tác động qua lại giữa hai bộ phận văn học là mối quan hệ rất khăng khít và lâu bền.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây