CHÍ PHÈO (Nam Cao )

Thứ ba - 15/09/2020 13:30
Chí Phèo tên that là gì, Chí Phèo - Thị Nở, Các nhân vật trong Chí Phèo, Nhân vật Chí Phèo, Toàn bộ tác phẩm Chí Phèo, Cốt truyện Chí Phèo, Bá Kiến tên thật là gì, đề tài, chủ đề tư tưởng của tác phẩm chí phèo
ngữ văn 11
ngữ văn 11
Chí Phèo tên that là gì, Chí Phèo - Thị Nở, Các nhân vật trong Chí Phèo, Nhân vật Chí Phèo, Toàn bộ tác phẩm Chí Phèo, Cốt truyện Chí Phèo, Bá Kiến tên thật là gì, đề tài, chủ đề tư tưởng của tác phẩm chí phèo

Phần mộtTÁC GIA NAM CAO.

I. Vài nét về tiểu sử và con người

- Tên thật Trần Hữu Tri: 20/ 10/ 1915.
- Quê làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Quê hương nghèo đói, đồng nhiều chiêm chũng, người dân phải tha phương cầu thực khắp nơi.
- Xuất thân trong một gia đình nghèo khó, cuộc sống hiện thực tàn nhẫn, là người con duy nhất trong gia đình được ăn học tử tế.
- Học xong bậc Thành chung vào Sài Gòn giúp việc cho một hiệu may.
Thời kỳ này bắt đầu sáng tác, ước mơ xây dựng một sự nghiệp văn chương có ích, nhưng sức khoẻ yếu, lại trở về quê thất nghiệp.
- Một thời gian sau, ông lên Hà Nội, dạy học ở trường tư thục. Nhật vào Đông Dương, trường học phải đóng cửa, ông lại thất nghiệp sống lay lắt bằng nghề gia sư và viết văn.
- 1943 tham gia Hội văn hoá cứu quốc, sau đó tham gia kháng chiến từ 1946.
- Năm  1947 lên Việt Bắc làm công tác tuyên truyền phục vụ kháng chiến.
- 1950 tham gia chiến dịch biên giới. Vừa lăn lộn trong kháng chiến, vừa viết văn, khao khát sự công bằng.
- 11/ 1951 trên đường đi công tác ở vùng địch hậu Liên khu III, bị giặc phục kích và bắn chết. Nam Cao hi sinh trong khi còn ấp ủ cuốn tiểu thuyết về tinh thần làm cách mạng trong kháng chiến ở làng quê ông.

II. Sự nghiệp văn học.

1. Quan điểm nghệ thuật.

- Luôn suy nghĩ sống và viết - sống đã rồi hãy viết.
- Nam Cao chủ trương văn học phải chứa đựng nội dung nhân đạo, coi lao động nghệ  thuật là một hoạt động nghiêm túc, công phu. Văn học phải diễn tả được hiện thực cuộc sống ( Đời thừa, Sống mòn, Đôi mắt…)
- Nam Cao cho rằng nghệ thuật là một lĩnh vực hoạt động đòi hỏi phải khám phá, đào sâu, tìm tòi và sáng tạo không ngừng. Nhà văn là chiến sĩ chiến đấu cho chân lí và sự công bằng xã hội( Đời thừa, Sống mòn…)
- Nam Cao lên án văn chương thoát ly hiện thực. Tác phẩm của ông phản ánh chân thực hiện thực xã hội, chứa chan lòng nhân đạo, tố cáo tội ác giai cấp thống trị, bênh vực và khẳng định phẩm chất của người lao động.
( Giăng sáng, Chí Phèo…)
- Sau cách mạng ông nêu cao lập trường, quan điểm của nhà văn: Nhà văn phải có con mắt nhìn đời, nhìn người  - đặc biệt là người nông dân kháng chiến - một cách đúng đắn.
àNam Cao xứng đáng là một nhà văn hiện thực sâu sắc, có quan điểm nghệ thuật tiến bộ, mới mẻ so với nhiều nhà văn đương thời.

2. Các đề tài chính.

- Trước cách mạng tập trung hai đề tài chính:
a/ Người tri thức nghèo.
- Những tác phẩm tiêu biểu: Sống mòn, Đời thừa, Những chuyện không muốn viết, Giăng sáng, Quên điều độ, Nước mắt...  
- Nội dung:
+ Tấn bi kịch tinh thần của những người tri thức tài năng, có hoài bão và nhân phẩm, nhưng lại bị gánh nặng của cơm áo, gạo tiền đè bẹp, phải sống mòn  như một kẻ vô ích, một đời thừa
+ Cuộc đấu tranh kiên trì của những người tri thức nghèo trước sự cám dỗ của lối sống ích kỉ, để thực hiện lí tưởng sống, vươn tới một cuộc sống cao đẹp.
+ Diễn tả hết sức chân thực tình cảnh nghèo khổ, dở sống, dở chết của những nhà văn nghèo. Ông đi sâu vào những bi kịch tâm hồn họ để từ đó tố cáo xã hội trà đạp lên ước mơ con người:
b/ Người nông dân nghèo.
- Những tác phẩm tiêu biểu:  Chí phèo, Một bữa no, Tư cách mõ, Lang rận, Lão Hạc, Dì Hảo, Nửa đêm, Mua danh, Trẻ con không biết ăn thịt chó…
- Nội dung.
+ Bức tranh chân thực về nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám: Nghèo đói, xơ xác, bần cùng.
+ Kết án đang thép xã hội bất công tàn bạo đã khiến cho một bộ phận nông dân nghèo đói bần cùng, lưu manh hóa. Quan tâm đến số phận hẩm hiu, bị ức hiếp, bị xô đẩy vào con đường cùng của tội lỗi. Ông lên tiếng bênh vực quyền sống, và nhân phẩm của họ
 ( Chí phèo, Lang rận, Lão Hạc, Dì Hảo…)
+ Chỉ ra những thói hư tật xấu của người nông dân, một phần do môi trường sống, một phần do chính họ gây ra( Trẻ con không biết ăn thịt chó, rửa hờn…)
+ Phát hiện và khẳng định được nhân phẩm và bản chất lương thiện của người nông dân, cho dù bị xã hội vùi dập, bị cướp đi cả nhân hình lẫn nhân tính.( Chí Phèo.)
à Dù ở đề tài nào ông luôn day dứt đớn đau trước tình trạng con người bị bị xói mòn về nhân phẩm, bị huỷ diệt về nhân tính.

- Sau cách mạng, Nam Cao là cây bút tiêu biểu của văn học giai đoạn kháng chiến chống Pháp. ( Nhật kí ở rừng, Đôi mắt, tâp kí sự Chuyện biên giới…). Ông lao mình vào kháng chiến, tự nguyện làm anh tuyên truyền vô danh cho cách mạng. Các tác phẩm của ông luôn luôn là kim chỉ nam cho các văn nghệ sỹ cùng thời.

3. Phong cách nghệ thuật.

- Là nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo:
+ Đặc biệt quan tâm đến đời sống tinh thần của con người.
+ Biệt tài phát hiện, miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật.
+ Rất thành công trong ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội tâm.
+ Kết cấu truyện thường theo mạch tâm lí linh hoạt, nhất quán và chặt chẽ.
+ Cốt truyện đơn giản, đời thường nhưng lại đặt ra vấn đề quan trọng sâu xa, có ý nghĩa triết lí về cuộc sống và con người xã hội.
à Ngòi bút của ông lạnh lùng, tỉnh táo, nặng trĩu ưu tư và đằm thắm yêu thương. Nam Cao được đánh giá là nhà văn hàng đầu trong nền Văn học Việt Nam thế kỷ XX.

III. Ghi nhớ.

- SGK

IV. Củng cố.

- Cảm nhận sâu sắc nhất về cuộc đời và sự nghiệp văn học Nam Cao?

Phần hai:  TÁC PHẨM CHÍ PHÈO.

1. Hoàn cảnh sáng tác và nhan đề truyện.

 - Viết về người thật, việc thật ở làng Đại Hoàng  quê hương của tác giả.
- Bá Kiến thật ngoài đời không chết giống như trong tác phẩm, mà vẫn sống đến đầu cách mạng. Sau khi tác phẩm ra đời hắn rất căm tức nhưng không làm gì được.
- Đầu tiên tác phẩm được đặt tên là Cái lò gạch cũ. Lúc in nhà xuất bản tự ý đổi tên là Đôi lứa xứng đôi. Sau cách mạng tác phẩm được tái bản và được đổi tên một lần nữa Chí Phèo.

2. Kể tóm tắt nội dung tác phẩm.

3. Giải thích từ khó.

-SGK

4. Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật.

4.1. Làng Vũ Đại - hình ảnh thu nhỏ của xã hội nông thôn Việt Nam trước Cách mạnh tháng Tám.

- Tác phẩm phân tích mối quan hệ xã hội: Đó là sự mâu thuẫn nội bộ cường hào địa chủ, chúng vừa đu lại đàn áp nhân dân, vừa ngấm ngầm hại nhau giữa các phe cánh ( Đội Tảo, Bá Kiến, Tư Đạm, Bát Tùng.)
- Nơi đầy rẫy bọn đâm thuê chém mướn: Năm Thọ đi, Binh Chức về. Binh Chức chết, lại nở ra một Chí Phèo. Chí Phèo chết một Chí Phèo con sắp ra đời.

- Xã hội đầy rẫy những con người tàn tạ : Một thị Nở dòng giống mả hủi, một Tư Lãng vừa hoạn lợn vừa làm thầy cúng - vợ chết, con chửa hoang. Một bà cô Thị Nở dở hơi. Một Chí Phèo con quỉ dữ của làng Vũ Đại.

- Đại diện cho giai cấp thống trị là Bá Kiến: Nham hiểm, biết cách dùng người thoả mãn sự thống trị, gây bao tang thương cho dân làng.
- Đại diện cho giai cấp bị trị là Chí phèo: Từ một người nông dân hiền lành, chất phác- bị đẩy đi ở tù - biến chất - lưu manh - bị cướp quyền làm người, tước đoạt cả nhân hình và nhân tính - trở thành con quỉ dữ.

à Nam Cao tố cáo hiện thực xấu xa, tàn ác của xã hội thực dân phong kiến: mâu thuẫn giai cấp gay gắt, âm thầm, quyết liệt, không khí tối tăm, ngột ngạt. Những cảnh đời dữ dội, những con người đáng sợ, nguồn gốc tội ác và đau thương đã và đang xô đẩy bao con người lương thiện vào con đường đau khổ, tội lỗi, bế tắc.
4.2. Nhân vật Bá Kiến - Bản chất giam hùm của một tên cáo già.
- Giọng nói, cái cười mang tính điển hình cao.
- Thao túng mọi người bằng cách đối nhân xử thế và thủ đoạn mềm nắn rắn buông.
- Khôn róc đời, biết dìm người ta xuống sông, nhưng rồi lại biết dắt người ta lên để phải đền ơn. Biết đập bàn đòi lại 5 đồng nhưng rồi cũng biết trả lại 5 hào vì thương anh túng quá.
- Bá dựng lên quanh mình một thế lực vững trãi để cai trị và bóc lột, giẫm lên vai người khác một cách thật tinh vi.
- Bá có đủ thói xấu xa: Háo sắc, ghen tuông, sợ vợ, hám quyền lực. Lão làm tha hoá và làm tan nát bao nhiêu cuộc đời con người lương thiện.
à Bá đại diện cho giai cấp thống trị. Là chân dung sắc nét về bộ mặt cường hào ác bá, tàn phá cuộc đời bao người dân lương thiện, đẩy họ vào con đường lưu manh, tội lỗi không lối thoát .
à Bá Kiến là thủ phạm chính tước đi quyền làm người của Chí Phèo. Đẩy Chí đi ở tù. Lấy đi cả nhân hình và nhân tính của Chí. Biến Chí thành con quỉ dữ của làng Vũ Đại.

4.3. Hình tượng nhân vật Chí.

a/ Hình tượng có tính chất qui luật, là sản phẩm của tình trạng áp bức bóc lột ở nông thôn VN trước cách mạng tháng Tám. Hình ảnh người nông dân bị đè nén đến cùng cực đã chống trả lại bằng con đường lưu manh tội lỗi.
- Mở đầu tác phẩm là hình ảnh: Chí Phèo vừa đi vừa chửi - tiếng chửi cùng song hành trong cuộc đời Chí- tiếng chửi báo hiệu một Chí Phèo lưu manh, cô độc.
à Say chỉ một phần; bởi cái say, cái tỉnh luôn song song tồn tại trong con người Chí.
à Tiếng chửi: Là phản ứng của chí đối với cuộc đời, bộc lộ tâm trạng bất mãn cao độ khi bị làng xóm, xã hội gạt bỏ.
à Bộ lộ sự bất lực, bế tắc, cô đơn tột độ của Chí giữa làng vũ Đại.
- Vừa kể, vừa tả, vừa biểu hiện tâm lí rất đặc sắc; Ngôn ngữ nhân vật hòa nhập ngôn ngữ tác giả.
* Trước khi ở tù.
- Vốn mồ côi, hiền lành, nhút nhát, sống lương thiện, khoẻ mạnh. Bị vứt bỏ ở lò gạch hoang - Chí trở thành vật cho không.
- Làm thuê hết nhà này đến nhà khác, chịu khó và hiền lành, bị bà Ba lợi dụng - Bá Kiến ghen - bị đẩy đi tù oan 7 -8 năm.
* Sau khi ở tù.
- Chế độ nhà tù thực dân đã biến Chí trở thành lưu manh, có tính cách méo mó và quái dị. Chí trở thành con quỉ dữ của làng Vũ Đại.
- Để có ăn phải cướp giật - doạ nạt - phải ăn cướp - ăn trộm. Chí đã bị đẩy vào con đường lưu manh hoá.
- Từ một anh Chí - trở thành một Chí Phèo. Rơi và thế cố cùng liều thân - lưu manh - đâm thuê chém mướn. Bị đè nén chống trả bằng con đường lưu manh.
- Triền miên trong cơn say: ăn - ngủ - chửi đều trong cơn say. Ngoài 40 tuổi sống vất vưởng, việc làm duy nhất là chửi và rạch mặt ăn vạ.
à Chí đã bị cướp đi cả nhân hình lẫn nhân tính. Bị biến chất từ một người lương thiện thành con quỉ dữ. Chí điển hình cho hình ảnh người nông dân lao động bị đè nén đến cùng cực, và cũng là một nhân chứng tố cáo chế độ thực dân - phong kiến đã cướp đi quyền làm người của Chí.

b/ Giá trị nhân đạo độc đáo của tác phẩm là sự thức tỉnh linh hồn Chí. Sau cuộc gặp gỡ với Thị Nở Chí loé khát vọng làm người lương thiện.

- Gặp Thị, lần đầu tiên thức tỉnh. Nhận biết được mọi âm thanh trong cuộc sống. Sợ cô đơn, thèm lương thiện. Bát cháo hành của Thị chính là vị thuốc diệu kỳ giúp Chí cởi bỏ xác thú, cải tử hoàn sinh.
- Lần đầu tiên Chí được một người khác cho. Lần đầu tiên Chí được hưởng sự chăm sóc bởi bàn tay của một người đàn bà. Ngoài 40 tuổi đầu mà đây là lần đầu tiên Chí được ăn cháo hành. Hương vị cháo hành hay hương vị tình yêu thương mộc mạc chân thành đã làm cho hắn cảm động: Hai con mắt ươn ướt...
àThị Nở chính là thiên sứ dẫn đường cho Chí đến với cuộc sống con người, giúp Chí có sức mạnh hoàn lương, đánh thức phần sâu kín nhất tâm hồn Chí cái bản chất đẹp đẽ của người nông dân lao động bị che lấp, vùi dập bấy lâu nay mà không tắt.
- Tình yêu hé mở con đường thành người. Chí hồi hộp hi vọng. Nhưng bị chặt đứng. Bà cô Thị không cho phép Thị lấy hắn. Chí rơi vào bi kịch tâm hồn đau đớn bị cự tuyệt quyền làm người, Chí tiếp tục bị xã hội vứt bỏ.

c/ Chí vùng lên manh động tự phát.

- Từ ngạc nhiên - thích chí trước cử chỉ giận dữ của Thị - hiểu rõ sự thật thì ngẩn ra - sửng sốt - không nói lên lời - Thị bỏ đi thì đuổi theo - núi lại - nắm lấy tay - bị đẩy ngã lăn xuống đất.
àBị cự tuyệt - uống rượu - càng uống càng tỉnh - đau khổ, tuyệt vọng - khóc rưng rức - xách dao ra đi - vừa đi vừa chửi. Chí đến thẳng nhà Bá Kiến theo sự thôi thúc âm ỉ của lòng căm thù bấy lâu nay. Chí đã thấm thía tội ác của kẻ thù, và nhận đúng kẻ thù của đời mình.
- Đứng trước Bá Chí dõng dạc chỉ thẳng tay vào mặt Bá đòi quyền lương thiện. Chí nói 3 câu rất gọn và rõ:
+ Một câu khẳng định quyết liệt: Tao muốn làm người lương thiện. Tiếng kêu tuyệt vọng của người cùng đường, đó cũng là lời cầu cứu của con người bị cự tuyệt quyền làm người.
+ Một câu hỏi uất ức: Ai cho tao lương thiện? Một sự thật phũ phàng và vô cùng đớn đau của một Con Người mà lại không được làm người.
+ Một câu khẳng định xót xa: Tao không thể là người lương thiện nữa. Lời xác nhận sự thật.
à Chí Phèo muốn, Chí Phèo hỏi và Chí phèo hiểu. Sự chuyển đổi cảm xúc ấy diễn ra đầy tự nhiên không gò bó là nhờ ngòi bút nhân đạo tài tình của Nam Cao.
- Chí giết kẻ thù và tự giết mình - ý thức nhân phẩm đã trở về - không bằng với cuộc sống thú vật nữa.  Chí giết Bá Kiến không phải là hành động lưu manh giết người, mà đó chính là hành động lấy máu rửa thù của người nông dân lao động cùng khổ đã vùng lên manh động tự phát.

4.4. Nghệ thuật - thành công và hạn chế.

- Xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình.
- Ngôn ngữ giản dị, diễn đạt độc đáo.
- Kết cấu tác phẩm  theo thời gian
- Hạn chế: Chưa dự báo được khả năng đổi đời của nhân vật. Cuộc đời của người nông dân vẫn luẩn quẩn trong vòng bế tắc...
- Thông qua số phận con người, tố cáo xã hội bạo tàn xô đẩy con người vào con đường lưu manh tội lỗi không lối thoát.
- Cây bút xuất sắc viết về nông thôn. Cái chỗ sâu thẳm nhất mà ngòi bút Nam Cao dừng lại ấy là đỉnh cao tâm hồn con người: Lòng nhân đạo.   
5. Ghi nhớ.
- SGK.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây