CA DAO VIỆT NAM

Thứ sáu - 25/09/2020 12:18
Những câu ca dao than thân, Các câu ca dao Việt Nam, Các câu ca dao tục ngữ Việt Nam, Thơ ca dao, Ca dao tình yêu, Giới thiệu về ca dao Việt Nam, Sưu tầm những câu ca dao tục ngữ, Ý nghĩa của ca dao
ngữ văn 10
ngữ văn 10
Những câu ca dao than thân, Các câu ca dao Việt Nam, Các câu ca dao tục ngữ Việt Nam, Thơ ca dao, Ca dao tình yêu, Giới thiệu về ca dao Việt Nam, Sưu tầm những câu ca dao tục ngữ, Ý nghĩa của ca dao

I. Khái quát về ca dao

 1. Khái niệm

- Ca dao là những bài thơ trữ tình dân gian thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, được sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người

2. Môi trường sinh thành

-  Ca dao bắt nguồn từ lao động, được khơi gợi cảm hứng từ công việc lao động vất vả, lam lũ của người bình dân xưa.
 Bao giờ cho đến tháng hai
Con gái làm cỏ con trai be bờ

3. Nội dung

- Phản ánh đời sống lao động:
 CD nói lên nỗi vất vả của người lao động trong công việc đồng áng, thể hiện tâm sự, tình cảm, ước vọng của họ. Dù  cuộc sống lao động gian khổ,  nhọc nhằn, nhưng người nông dân vẫn tìm thấy niềm vui và niềm hạnh phúc trong lao động
- Tiếng hát than thân, phản kháng của người lao động
+ Nội dung- Đối tượng:  tiếng kêu than của quần chúng nhân dân thuộc nhiều thời kì, nhiều thành phần khác nhau, đặc biệt là người phụ nữ
+Hình thức:  mở đầu bằng Thân em hoặc em như thể hiện thân phận phụ thuộc của người phụ nữ, họ bị đè nén, kìm hãm không được quyền quyết định số phận của mình
-Tiếng hát nghĩa tình
+Tình cảm đối với ông bà, cha mẹ
+Tình cảm lứa đôi- vợ chồng
+ Tình cảm bạn bè
+ Tình yêu quê hương đất nước
=> Ca dao là quá trình tự nhận thức bản thân của người bình dân trong hoàn cảnh cuộc sống vất vả, chịu đựng nhiều nỗi bất bình, tủi nhục, đắng cay vẫn giữ được bản chất tốt đẹp, tình nghĩa đậm đà.

4.Nghệ thuật

- Dung lượng: Ca dao thường nhắn gọn, từ 2 câu ->khoảng trên dưới 20 câu
- Thể thơ Lục –bát được sử dụng là chủ yếu, bên cạnh đó có 1 số biến thể khác: STLB, vãn 4, vãn 5
- Hình ảnh NT:
+ giàu hình ảnh so sánh, ẩn dụ và các biểu tượng truyền thống như: hạt mưa, tấm lụa đào, cây đa, bến nước, thuyền đò
- Kết cấu: thường sử dụng hình thức lặp về kết cấu, hình ảnh, 1 từ, 1 cụm từ hoặc lặp lại dòng thơ mở đầu
- Ngôn ngữ: KH giữa ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ văn chương, vừa tinh tế, chắt lọc vừa biểu cảm, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày, giản dị, đậm đà màu sắc địa phương và dân tộc, song vẫn đạt được sự chọn lọc, trao chuốt. Ngôn ngữ trong ca dao thường dùng với nghĩa bóng
   Lạ dòng vớ được trai tơ
Đêm nằm hí hửng như mơ được vàng
- Không gian, thời gian trong ca dao thường mang tâm trạng con người, thường là không gian bình dị ở làng quê

5. Cách phân tích 1 bài ca dao

- Đọc kĩ bài ca dao
- Khi tìm hiểu 1 bài ca dao cần đặt nó vào nhóm tác phẩm và các hệ thống: đề tài
-Xác định kết cấu của bài ca dao:
+ 1 vế:
+ 2 vế: đối đáp
- Cần xác định rõ chủ thể trữ tình của bài ca dao: ngôi thứ mấy, Là lời của ai, đối tượng trò chuyện là ai?
- Hoàn cảnh diễn xướng: không gian – thời gian
- Đặt bài ca dao trong hệ thống những câu có cùng cấu tứ để xác định lời ca nói gì, chú ý các biện pháp NT

II. Luyện đề

ĐỀ 1. Cảm nhận về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa qua bài ca dao:

Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
DÀN Ý CHI TIẾT
Ca dao, dân ca được ví như viên ngọc sáng trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Ca dao chất chứa cái hồn quê chân chất, là tiếng hát cất lên từ cõi lòng của người nông dân chân lấm tay bùn, cả đời gắn bó với đồng ruộng. Đó là tình yêu gia đình, tình yêu quê hương sâu nặng, là tình yêu trai gái mặn nồng; có tiếng cười trào phúng và có cả tiếng thở dài của người phụ nữ qua những bài ca dao than thân. Họ là những người bị coi thường trong chế độ xã hội phụ quyền với tư tưởng trọng nam khinh nữ. Tiêu biểu cho mảng ca dao chủ đề than thân phải kể đến những bài ca dao bắt đầu bằng hai chữ Thân em. Đây tuy là mô típ quen thuộc nhưng được nhân dân lao động vận dụng đầy sáng tạo, đặc sắc trong số đó có thể kể đến bài ca dao sau:
Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
Mở đầu bằng cụm từ Thân em người đọc dễ dàng nhận ra nhân vật trữ tình là cô gái, cách mở đầu bằng cụm từ này khiến lời than của người phụ nữ trong xã hội cũ thêm ngậm ngùi, xót xa, buồn tủi. Cách mở lời đã tạo ấn tượng, gây chú ý đến người nghe, người đọc.
Nhân vật trữ tình trong bài ca dao này tự ý thức được vẻ đẹp và khẳng định được vẻ đẹp, giá trị của mình. Chẳng phải ngẫu nhiên mà người phụ nữ chọn tấm lụa đào để tự ví với mình. Hình ảnh so sánh, ẩn dụ tấm lụa đào chính là thể hiện cái tính cách dịu hiền của họ đã gắn liền với hình ảnh dải lụa đào, vừa nhẹ nhàng đằm thắm, vừa kín đáo duyên dáng, lại tươi tắn tràn đầy sức sống. Tấm lụa đào đẹp từ chất liệu, dáng vẻ đến màu sắc bởi được dệt từ loại tơ tằm tốt nhất. Lụa nhẹ, mềm và rất mát, mặc vào thì người đẹp hẳn lên. Dân gian vẫn có câu Người đẹp vì lụa đó thôi. Ở câu thứ nhất, cô gái tự ví bản thân mình như một tấm lụa đào đẹp và quý nhưng qua câu thứ hai lại thấy có gì đó thật chua xót:
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
Vật có giá trị như vậy đáng lẽ ra phải được người ta nâng niu trân trọng, cất giữ hay trưng diện ở những nơi sang trọng nhất. Nhưng đáng tiếc thay, lại là thứ để người ta ngã giá trao đổi giữa chợ. Hình ảnh tấm lụa đào gợi lên vẻ thanh xuân mơn mởn, tràn đầy sức sống của một cô gái đương thì, nhưng hình ảnh tấm lụa đào phất phơ giữa chợ lại có một cái gì đó thật trớ trêu, tội nghiệp. Cụm từ phất phơ chỉ ra được trạng thái không ổn định cũng giống như thân phận yếu đuối, mỏng manh, không thể tự quyết định của cô gái. Người con gái như món hàng giữa chợ đời, hoàn toàn phụ thuộc cuộc đời mình vào người mua mà không thể tự làm chủ. Thân phận người phụ nữ cũng như tấm lụa vậy, cũng mỏng manh, cũng chìm nổi, cũng phụ thuộc, cũng lạc lõng, đơn côi giữa dòng đời.
Nỗi đau xót của nhân vật trữ tình trong lời than thân chính là ở chỗ khi người con gái bước vào cái tuổi đẹp nhất, hạnh phúc nhất của đời mình thì lại phải băn khoăn lo lắng cho thân phận bấp bênh, không làm chủ được tương lai của mình, lo lắng trước những khó khăn sẽ ập đến vào lúc tuổi xuân đang đẹp nhất của cuộc đời. Tuổi xuân của họ bị ám ảnh bởi chính nỗi lo lắng, băn khoăn về tương lai vô định phía trước. Bài ca dao kết thúc bằng câu hỏi đầy chua xót: biết vào tay ai?. Quả là hoàn cảnh khách quan chi phối rất nhiều, có khi quyết định số phận cả một đời người. Sự đối lập giữa hai dòng thơ đã khiến ta thấm thía nỗi đau đó.
Chính những định kiến sai lầm của xã hội phong kiến như: trọng nam khinh nữ, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó rồi thì môn đăng hộ đối, hồng nhan bạc phận đã khiến người phụ nữ phải chịu sự lệ thuộc, không được tự do quyết định số phận, hạnh phúc của mình. Họ không bao giờ có thể biết chắc rồi đây cuộc đời mình sẽ ra sao, bến bờ nào đang đợi mình phía trước.
Mô típ Thân em là một trong những cấu trúc điển hình quen thuộc của ca dao than thân. Ngoài bài ca dao đã nêu, chúng ta dễ dàng bắt gặp những câu ca dao có mở đầu bằng cụm từ Thân em như:
Thân em như hạt mưa rào,
Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa.
Hay:
Thân em như giếng giữa đàng,
Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân.
Hoặc:
Thân em như trái bần trôi,
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu.
Đó là lời than thân của người phụ nữ trong xã hội xưa. Ý thơ gợi lên cả một kiếp sống đầy đắng cay. Mỗi câu ca dao có sắc thái ý nghĩa khác nhau nhưng đều gợi lên nỗi chua xót, ngậm ngùi cho số phận bấp bênh, éo le, phải chịu lệ thuộc, không thể tự quyết định được tương lai, số phận của người phụ nữ trong xã hội xưa. Cả ba bài ca dao đều được viết theo thể thơ lục bát, ngắn gọn nhưng thể hiện rõ tâm trạng của nhân vật trữ tình. Sau Thân em là từ như dùng để so sánh. Đối tượng đem ra so sánh đều là những vật gần gũi, quen thuộc và có những nét tương đồng độc đáo với thân phận của người phụ nữ trong xã hội xưa như hạt mưa rào, củ ấu gai, giếng giữa đàng. Cách đem các sự vật ấy ra so sánh khiến cho hình ảnh người phụ nữ hiện lên một cách sinh động, đồng thời cũng làm nổi bật được thân phận của họ.
Tuy có đôi nét khác nhau ở nội dung thể hiện ở từng bài nhưng nhìn chung, ba bài ca dao trên đều thể hiện nỗi buồn của người phụ nữ trong xã hội xưa và phản ánh ước mơ, khát vọng của họ về một tương lai tốt đẹp hơn. Bằng những câu ca dao với mô típ Thân em, người phụ nữ đã bộc lộ sự tự ý thức về giá trị của bản thân, cũng như thốt lên những tiếng than thân, trách phận về nỗi buồn tủi bất công mà những quan niệm, định kiến vô lí của xã hội phong kiến gây ra cho họ. Đó là những tiếng lòng rất đáng được cảm thông, chia sẻ. Quả thật, ta thấy trong tiếng thở dài than thân kia còn chen lẫn niềm tự hào, sự kiêu hãnh kín đáo về sắc đẹp cũng như phẩm hạnh của người con gái.
Bài ca dao không chỉ tiêu biểu cho lời than về thân phận bị lệ thuộc của người phụ nữ mà còn là tiếng nói khẳng định giá trị, phẩm chất tốt đẹp của họ. Bên cạnh đó nó còn thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc khi gián tiếp tố cáo xã hội phong kiến coi thường, hạ thấp giá trị người phụ nữ, tước đoạt quyền sống, quyền tự do của họ.
ĐỀ 2:

Ca dao Việt Nam có rất nhiều câu diễn tả nỗi nhớ của con người ở mọi hoàn cảnh, mọi lứa tuổi nhưng nhiều nhất vẫn là nỗi nhớ của những người đang yêu.

Hãy phân tích bài ca dao Khăn thương nhớ ai để làm rõ nét đặc sắc trong nỗi nhớ của nhân vật trữ tình trong tình yêu đôi lứa.

DÀN Ý CHI TIẾT
Từ xưa tới nay, nền văn học Việt Nam vốn dĩ rất phong phú đa dạng, từ phong cách thể hiện cho tới thể loại. Xuất hiện sớm và có được sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ xa xưa, ca dao đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu của con người Việt Nam. Đó có thể là lời răn dạy, là lời gửi gắm là tình yêu, là sự nhớ nhung chưa có cơ hội để bày tỏ. Thông qua những câu ca dao, người ta dễ dàng tìm thấy một sự đồng cảm, sâu lắng và tinh tế. Đối với ca dao - dân ca, tình yêu nam nữ là đề tài có sức hấp dẫn kì lạ: khi thì ẩn giấu những nỗi niềm sâu xa, lắng đọng; khi thì trào dâng những cảm xúc dạt dào, mạnh mẽ của tình yêu nam nữ. Khăn thương nhớ ai là một trong những bài ca dao có nội dung về tình yêu đôi lứa được gợi mở bằng những hình ảnh mang tính biểu tượng cao:
Khăn thương nhớ ai,
Khăn rơi xuống đất.
Khăn thương nhớ ai,
Khăn vắt lên vai.
Khăn thương nhớ ai,
Khăn chùi nước mắt.
Đèn thương nhớ ai,
Mà đèn không tắt.
Mắt thương nhớ ai,
Mắt ngủ không yên.
Đêm qua em những lo phiền,
Lo vì một nỗi không yên một bề …
Bài ca nằm trong hệ thống ca dao về đề tài thương nhớ, một cung bậc trong ca dao tình yêu của người bình dân Việt Nam. Bài ca diễn tả nỗi nhớ niềm thương của một cô gái. Nhớ thương da diết, nhớ đến thao thức, cồn cào gan ruột mà không dễ bộc lộ. Cô phải hỏi khăn, hỏi đèn, hỏi cả mắt mình. Những câu hỏi không có câu trả lời càng nén chặt nỗi thương nhớ, để cuối cùng trào ra trong nỗi lo âu cho hạnh phúc. Bài ca dao theo thể bốn chữ và kết thúc bằng hai câu lục bát rất phù hợp với việc gửi gắm tâm tư sâu kín và những trạng thái phức tạp, tinh tế của tâm hồn. Nhân vật trữ tình trong bài ca dao là cô gái đang sống trong tâm trạng thương nhớ người yêu khôn nguôi. Những lo phiền chất chứa trong lòng cũng xuất phát từ niềm thương nhớ ấy.
Thương nhớ vốn là thứ tình cảm khó hình dung, nhất là thương nhớ trong tình yêu. Vậy mà ở bài này, nó lại được diễn tả một cách cụ thể, tinh tế và gợi cảm nhờ cách nói bằng những hình ảnh tượng trưng mang tính nghệ thuật cao. Nỗi niềm thương nhớ của cô gái đối với người yêu đã được gửi gắm vào các sự vật như cái khăn, cái đèn, đôi mắt, đặc biệt là hình ảnh cái khăn. Xưa kia, cái khăn thường là ki vật để trao duyên, gợi nhớ đến người yêu đang xa cách:
Gửi khăn, gửi áo, gửi lời,
Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa.
Hay:
Nhớ khi khăn mở, trầu trao,
Miệng thì cười nụ biết bao nhiêu tình.
Mượn hình ảnh khăn (khăn đội đầu hoặc khăn tay) để thể hiện nỗi nhớ, vì chiếc khăn chính là vật trao duyên, là kỷ vật tình yêu, luôn được cô gái mang theo bên mình. Các hành động, trạng thái thay đổi liên tục của chiếc khăn cho thấy tâm trạng rối bời, ngổn ngang của cô gái.
Khăn thương nhớ ai,
Khăn rơi xuống đất.
Khăn thương nhớ ai,
Khăn vắt lên vai.
Khăn thương nhớ ai,
Khăn chùi nước mắt.
Cái khăn, tự nó không biết thương nhớ không biết rơi xuống, vắt lên, chùi nước mắt, nhưng những hình ảnh vận động mang cảm xúc người đă làm hiện lên hình ảnh con người với tâm trạng ngổn ngang niềm thương nhớ cùng nỗi lo âu. Nhớ đến ngơ ngẩn, nỗi nhớ tỏa theo nhiều hướng của không gian khăn rơi xuống đất rồi lại khăn vắt lên vai, cuối cùng thu lại trong cảnh khóc thầm khăn chùi nước mắt. Bằng nghệ thuật nhân hóa, qua hình ảnh khăn đã thể hiện nỗi nhớ da diết đã bao trùm cả không gian.
Sáu câu thơ được cấu trúc theo lối vắt dòng, láy lại sáu lần từ khăn ở vị trí đầu các câu thơ và láy lại ba lần câu khăn thương nhớ ai như kéo dài âm hưởng cho nỗi nhớ triền miên, da diết. Nghệ thuật điệp từ như một điệp khúc ngân vang lên, càng nhấn mạnh, khắc hoạ sâu hơn nỗi mong nhớ của cô gái. Dường như mỗi lần hỏi là nỗi nhớ lại trào dâng thêm. Ấy vậy mà mượn hình ảnh khăn cũng không thể nói hết nỗi nhớ nên phải dùng đến một hình ảnh thứ hai: hình ảnh chiếc đèn. Nếu như nỗi nhớ trong sáu câu trên lan tỏa vào không gian, thì đến những câu về hình ảnh đèn lại thể hiện tâm trạng nhớ nhung dàn trải, kéo dài suốt thời gian. Nỗi nhớ ban ngày kéo dài sang cả ban đêm:
Đèn thương nhớ ai,
Mà đèn không tắt.
Vẫn là điệp khúc thương nhớ, nhưng nỗi nhớ đã chuyển từ khăn sang đèn. Hình ảnh ngọn đèn gợi ra đêm khuya vò võ canh tàn, và cái đốm lửa đang cháy kia phải chăng là hình ảnh của nỗi nhớ cháy rực trong lòng cô gái? Đèn không tắt hay chính con người đang thao thức thâu đêm trong nỗi nhớ thương đằng đẵng ? Nếu trên kia, cái khăn đã biết giãi bày, thì ở đây, ngọn đèn cũng biết thổ lộ. Ngọn đèn thắp sáng suốt đêm mãi không chịu tắt, cũng như tình yêu, nỗi nhớ khôn nguôi của cô gái dành cho người yêu không lúc vào vơi cạn, lúc nào cũng rực cháy trong tim. Bằng nghệ thuật nhân hóa, hai hình ảnh quen thuộc khăn, đèn trong đời sống đã giúp cô gái giãi bày tâm trạng nhớ nhung. Đây là cách nói gián tiếp, thể hiện tình cảm sâu sắc nhưng tế nhị, kín đáo.
Dù kín đáo, gợi cảm bao nhiêu chăng nữa thì cái khăn và ngọn đèn cũng chỉ là cách nói gián tiếp theo lối biểu tượng, nhân hóa, những hình ảnh được mượn làm cái cớ để gửi gắm nỗi niềm tâm sự. Đến đây, dường như không kìm lòng được nữa, cô gái đã hỏi trực tiếp chính mình:
Mắt thương nhớ ai,
Mắt ngủ không yên.
Cứ nhắm mắt vào, hình ảnh người thương lại hiện ra, ngủ làm sao cho được! Thương nhớ đến không ngủ được, cứ trằn trọc thao thức là cách biểu lộ quen thuộc trong ca dao:
Đêm nằm lưng chẳng tới giường.
Trông cho mau sáng ra đường gặp anh.
Tuy nhiên, cũng là một tâm trạng ấy, nhưng trong bài ca này, hình ảnh đôi mắt có sức gợi cảm sâu xa hơn nhiều. Mắt ngủ không yên tạo nên một đối xứng rất đẹp với đèn không tắt ở trên, gợi lên một cảnh tượng rất thực: cô gái giữa đêm khuya một mình đốì diện với ngọn đèn mà nhớ người thương. Vì mắt ngủ không yên nên đèn không tắt. Nói đèn cũng chỉ là để nói người thôi. Ngọn đèn soi chiếu vào đôi mắt, càng thấy nỗi nhớ thương vời vợi khôn nguôi.
Không còn là nhân hóa cho sự vật để thể hiện tình cảm nữa mà qua hình ảnh mắt, nghệ thuật hoán dụ đã cho thấy nỗi nhớ được đẩy lên cấp độ cao hơn, tình cảm mãnh liệt hơn. Mượn hình ảnh khăn, đèn gián tiếp bày tỏ nỗi nhớ nhưng vẫn không thể diễn tả được hết nên phải dùng đến hình ảnh mắt. Sự vỡ oà về cảm xúc, nỗi nhớ dâng trào khiến cô gái không thể mượn một hình ảnh gián tiếp nào khác nữa mà phải để chính mình, trực tiếp thể hiện nỗi lòng của mình. Niềm thương nhớ, tâm trạng bồn chồn, luôn mong ngóng người yêu luôn thường trực khiến cô gái không thể làm gì được.
Mười câu thơ là năm câu hỏi không có lời đáp. Điệp khúc thương nhớ ai trở đi trở lại như xoáy vào một nỗi niềm khắc khoải, da diết. Năm lần từ thương nhớ và năm lần từ ai xuất hiện. Bản thân từ thương nhớ gợi lên một nỗi nhớ mong sâu thẳm mênh mông, không giới hạn. Từ ai là phiếm chỉ, không xác định cá thể đối tượng, nhưng người nghe hoàn toàn hiểu được ai ấy là ai. Hỏi không có trả lời, nhưng thực ra câu trả lời đã nằm trong giọng điệu khắc khoải, da diết kia. Không cần nói rõ, nhưng nỗi nhớ người yêu đã được bộc lộ một cách kín đáo mà gợi cảm, sâu sắc, mãnh liệt.
Không chỉ đặc sắc trong việc chọn lựa hình ảnh để gửi gắm tâm sự, cách gieo vần của bài ca dao cũng rất đặc sắc: Vần chân và vần lưng xen kẽ nhau, vần bằng và vần trắc luân phiên nhau, tất cả tạo nên một âm điệu luyến láy liên hoàn khiến cho nỗi nhớ thương của cô gái vừa như nén lại, vừa như kéo dài ra đến mênh mông vô tận theo cả không gian và thời gian. Tưởng chừng nỗi nhớ ấy sẽ không có kết thúc... Nhưng bài ca phải có điểm dừng. Khi cô gái không hỏi nữa thì niềm thương nhớ trào ra thành nỗi lo phiền:
Đêm qua em những lo phiền,
Lo vì một nỗi không yên một bề ...
Từ nhịp thơ bốn chữ dồn dập, liên tiếp, lời ca chuyển sang nhịp thơ lục bát, nhẹ nhàng hơn nhưng cũng xao xuyến hơn, giãi bày niềm lo âu của cô gái trước hạnh phúc lứa đôi. Không phải ngẫu nhiên mà chữ lo được nhắc đến hai lần. Tâm trạng lo phiền của cô gái cũng xuất phát từ cội nguồn thương nhớ. Tình yêu dù trong sáng, mãnh liệt, lãng mạn bay bổng tới đâu chăng nữa cũng gắn bó với đời thường mà đời thường vốn lại nhiều dâu bể. Trong tình yêu có biết bao là trắc trở, cô gái đã thẳng thắn trình bày suy nghĩ, giãy bày sự lo lắng cho tình yêu của mình. Phải đặt bài ca này vào cuộc sống của người phụ nữ xưa và trong hệ thống của những bài ca than thân về hôn nhân và gia đình thì ta mới thấy hết ý nghĩa của hai câu kết, hạnh phúc lứa đôi của họ thường bấp bênh vì tình yêu tha thiết nhiều khi không dẫn đến hôn nhân. Chính vì vậy nên dù nói cô lo vì một nỗi, một bề nhưng nó lại hoá thành rất nhiều vấn vương, thao thức. Cô gái lo cho chàng trai hay lo rằng chàng trai không yêu thương mình tha thiết như mình đã yêu thương chàng? Hay cô lo người ta thay lòng đổi dạ, tình yêu sẽ tan vỡ? Hay lo vì số phận bấp bênh, không thể đến được với nhau? Nhớ thương người yêu và lo lắng cho duyên phận của mình không yên một bề, tâm trạng của cô gái mang ý nghĩa phổ biến cho người phụ nữ trong cuộc đời xưa: yêu tha thiết nhưng luôn lo sợ cho hạnh phúc bấp bênh.
Bài ca khá tiêu biểu cho nghệ thuật ca dao với sự lặp lại trong cách diễn tả tâm trạng, cách dùng những hình ảnh biểu tượng, lối nhân hóa để tăng thêm sức sống cho hình ảnh, cách gieo vần linh hoạt, cách cấu tạo truyền thống kết hợp những câu thơ bốn chữ với hai câu lục bát cuối cùng.
Khăn thương nhớ ai là tiếng hát yêu thương, thể hiện nỗi nhớ, niềm khao khát được sống, được yêu và được hưởng hạnh phúc trọn vẹn trong tình yêu. Chính tình yêu đã khiến cho con người ta, dù là một cô gái cũng dám nói lên suy nghĩ tình cảm của chính mình, nỗi thương nhớ da diết dành cho người mình thương. Đồng thời bài ca dao còn cho thấy nét đẹp tâm hồn của các cô gái Việt ở làng quê xưa.
ĐỀ 3:

Phân tích bài ca dao sau để thấy được nét đẹp trong tâm hồn người dân lao động khi nói về tình cảm vợ chồng.

Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay.
Đôi ta nghĩa nặng tình đầy,
Có xa nhau đi nữa, cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa.
DÀN Ý CHI TIẾT
Kho tàng ca dao Việt Nam vô cùng phong phú về đề tài, ở mỗi đề tài lại có những bài đặc sắc riêng. Trong mảng đề tài ca dao về tình nghĩa có những bài ca rất hay nói về tình nghĩa lứa đôi mặn nồng, ca ngợi tình nghĩa vợ chồng gắn bó thủy chung. Ban đầu, trai gái yêu nhau thường lấy trăng, hoa, sông, núi… làm cái cớ để tỏ tình, để hứa hẹn, thề thốt. Ở vào thời điểm mơ mộng, huyền diệu ấy, tình yêu hiện ra thật lãng mạn, đẹp đẽ nhưng khi đã nên vợ nên chồng thì tình yêu chuyển thành tình thương, tình nghĩa, tức là đi vào chiều sâu của tình cảm. Ca dao đã mượn các hình ảnh gần gũi, quen thuộc để miêu tả tình nghĩa vợ chồng. Đặc sắc nhất có thể kể đến bài ca dao sau:
Muối ba năm muối đang còn mặn,
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay.
Đôi ta nghĩa nặng tình đầy,
Có xa nhau đi nữa, cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa.
Ca dao thường mở đầu theo thể hứng: bắt đầu từ một sự vật, sự việc nào đó rồi mới nói đến ý chính. Nhiều khi sự vật mở đầu và ý chính không có liên quan gì với nhau. Nhưng cũng có khi sự vật mở đầu và ý chính có liên quan với nhau. Bài ca này thuộc trường hợp sau: mở đầu bằng muối - gừng để nói đến tình nghĩa của con người. Muối - gừng đã đi vào ca dao khá nhiều như trong câu sau:
Tay bưng đĩa muối chén gừng,
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.
      Muốigừng, đó là những hình ảnh đẹp, bình dị, gần gũi vô cùng quen thuộc trong đời sống dân dã, bình dị và nghèo khó của nhân dân lao động. Muối và gừng là những gia vị thường dùng trong bữa cơm hằng ngày của người bình dân. Muối có mặt trong bữa ăn của mọi nhà, mọi người. Cái vị mặn mòi của muối được nhấn mạnh trong cụm từ muối ba năm. Trải qua năm tháng, hạt muối càng mặn mà thêm, cũng giống như thời gian trôi qua càng làm đậm đà hơn tình chồng nghĩa vợ. Vị cay nồng của gừng làm nóng ran từ miệng vào tới gan ruột, khiến ta có cảm giác tăng thêm nhiệt huyết, sức lực. Độ cay của gừng chín tháng được ngầm so sánh với mức độ thắm thiết của tình cảm vợ chồng. Trong gian nan, vất vả, tình nghĩa vợ chồng càng thêm sâu nặng. Hơn thế, muối và gừng còn là những vị thuốc đắc dụng trong lúc ốm đau. Tác giả dân gian đã dùng gừng cay - muối mặn chứ không phải là đường, là mật ngầm ý khẳng định sự thử thách trong gian khổ khó khăn sẽ làm cho tình cảm thêm bền chặt, nghĩa tình thêm thuỷ chung bền vững.
Để làm nổi bật hai hình ảnh muối ba năm với gừng chín tháng, các tác giả dân gian đã sử dụng nhiều biện pháp tu từ đặc sắc. Sự cân đối nhịp nhàng của hai câu thơ bảy chữ kết hợp với điệp từ muốigừng được lặp lại hai lần trong câu thơ, có sự bổ trợ của cụm từ chỉ trạng thái đang còn mặn - hãy còn cay, đặc tả tình nghĩa vợ chồng đằm thắm, nồng nàn. Thêm vào đó, bằng nghệ thuật ẩn dụ muối - gừng trở thành hình ảnh biểu trưng cho sự gắn bó chung thuỷ của con người. Hình tượng thơ không cầu kì, bóng bẩy mà đơn sơ, gần gũi: Muối để càng lâu năm càng mặn, gừng để càng già càng cay giống như tình nghĩa vợ chồng càng trải qua thời gian càng gắn bó, sâu đậm.
Gừng cay, muối mặn tượng trưng cho tình nghĩa của những cặp vợ chổng nghèo cùng nhau chung lưng đấu cật, lên thác xuống ghềnh, lên rừng xuống biển. Chén cơm sẻ nửa, hạt muối chia đôi. Qua gian nan, cơ cực, tình nghĩa vợ chồng gắn bó càng thêm sâu sắc.
Chỉ bằng hai hình ảnh đơn giản, gần gũi tác giả dân gian đưa vào văn chương, muối và gừng đã mang ý nghĩa tượng trưng cho tình nghĩạ vợ chồng đậm đà, sâu nặng.
Hai câu đầu của bài ca dao nhấn mạnh bản chất khó thay đổi bởi thời gian của muối và gừng. Những số từ như ba năm, chín tháng không phải là số từ cụ thể mà nó hàm ý chỉ thời gian lâu dài. Mà thời gian lại chính là thử thách nghiệt ngã nhất, là thước đo chính xác nhất phẩm chất và giá trị của sự vật, của con người.
Nhưng không phải lúc nào tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng cũng thuận buồm xuôi gió. Trong cuộc sống chung, vợ chổng cũng phải lên thác xuống ghềnh, ba chìm bảy nổi chín lênh đênh, nghĩa là bên cạnh cái ngọt ngào của tình yêu, họ cũng gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống tình đời thường cần phải vượt qua. Tuy nhiên những khó khăn đó chẳng làm lay chuyển tình nghĩa vợ chồng. Ở hai câu sau, tác giả dân gian không mượn cách nói gián tiếp như hai câu đầu nữa mà dùng cách nói trực tiếp:
Đôi ta nghĩa nặng tình dày
Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa.
Câu thơ sáu chữ cổ âm điệu ngọt ngào, sâu lắng cùng với các từ ngữ đan xen hài hoà, thể hiện sự khăng khít của cặp vợ chồng rất đỗi thương nhau.
Hai tiếng đôi ta nghe thật gần gũi, khăng khít, hoà hợp. Dùng đôi ta chứ không phải hai ta,hai ta thì chưa thể là một. Để tiếp tục khắc sâu ý nghĩa của từ đôi ta, tác giả cụ thể hoá bằng hình ảnh nghĩa nặng tình dày. Cụm từ nghĩa nặng tình dày nói về nghĩa tình sâu nặng một cách thấm thía. Với người bình dân, tình bao giờ cũng đi với nghĩa. Nghĩa là trách nhiệm, là nghĩa vụ. Tình càng dày thì nghĩa càng nặng. Nghĩa đặt trước tình, quấn quyện vào nhau, không có gì đo lường được tình nghĩa vợ chồng dành cho nhau. Gừng chín tháng, muối ba năm, nhưng tình nghĩa của con người là trọn đời trọn kiếp. Thành ngữ nghĩa nặng tình dày đan cài trong lời thơ một cách khéo léo, như một hòn đá tảng trong đời sống vợ chồng, không sức mạnh gì xô đẩy, di chuyển được.
Câu thơ: Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa đột ngột kéo dài từ sáu chữ thành mười ba chữ, không phải là không có lí do. Độ dài của câu ca dao phần nàọ bộc lộ sự băn khoăn, bức xúc trong tâm trạng của người vợ hoặc người chồng, ở đỉnh cao của tình cảm vợ chồng, giữa thời điểm hạnh phúc nhất, đôi khi người vợ hoặc người chồng tự nhiên phân vân, lo lắng cho tương lai, cho những ngày tiếp theo liệu có giữ được gừng cay, muối mặn, nghĩa nặng tình dày mãi không? Cụm từ có xa nhau đi nữa diễn tả tâm trạng có thật của một trong hai người, nhưng nó chĩ là một dao động thoáng qua, một sự lo xa cần thiết ở những người vợ, người chồng biết lo lắng, chăm sóc gìn giữ cho hạnh phúc gia đình.
Nhân vật trữ tình tự đặt ra giả thiết: Có xa nhau đi nữa và cũng tự trả lời: ba vạn sáu ngàn ngày mới xa. Tại sao họ không nói một trăm năm mà lại là ba vạn sáu ngàn ngày? Phải chăng cách nói như dằn từng tiếng ấy nhằm nhấn mạnh quyết tâm sắt đá, khắc cốt ghi xương lời thề gìn giữ cuộc sống vợ chồng cho vuông tròn đến đầu bạc răng long. Rõ ràng thời gian nhắc đến trong bài ca dao này chỉ mang tính chất phóng đại: sau ba năm muối có thể hết mặn, gừng có thể hết cay nhưng tình nghĩa thì vẫn còn mãi. Dù có trải qua nhiều khó khăn đi chăng nữa thì tình cảm vẫn bền chặt. Có chăng là qua ba vạn sáu ngàn ngày thì mới thay đổi. Ba vạn sáu nghìn ngày là một trăm năm, là cả đời người. Nghĩa tình gắn bó với nhau suốt đời suốt kiếp như thế mới thật là sâu đậm. Nói xa nhau mà đến một trăm năm sau mới chịu xa tức là không bao giờ xa nhau, không bao giờ quên nhau. Nhịp điệu câu cuối ngân dài như lời khẳng định sự thuỷ chung son sắt trong tình yêu, trong tình cảm vợ chồng.
Dẫu không sử dụng một từ so sánh nào nhưng ý so sánh trong bài ca dao vẫn khá rõ. Giống như muối mặn, gừng cay, tình nghĩa đôi ta trải qua năm tháng càng thêm nặng, thêm dày, không gì có thể làm cho phai nhạt. Điều thú vị ở đây là cách nói vòng: Ba vạn sáu ngàn ngày tức là một trăm năm nhưng lại không nói trực tiếp là một trăm năm. Lấy vợ lấy chồng, ai cũng ao ước được trăm năm hạnh phúc bên nhau. Vậy thì cái chuyện xa nhau dẫu có thể xảy ra thì cũng phải sau ba vạn sáu ngàn ngày, khi mà cả hai đều đã sống trọn vạn kiếp người.
Bốn câu ca dao là tiếng hát ca ngợi về phẩm chất tốt đẹp của người dân lao động. Ca ngợi sự chân thành, biết quý trọng tình cảm, sự gắn bó, thủy chung son sắt, khát khao hạnh phúc lâu bền trong tình nghĩa vợ chồng, trong tình yêu đôi lứa. Sức mạnh của tình yêu nam nữ không trở lực nào ngăn cản được. Tình cảm vợ chồng lại càng không có thế lực nào phá vỡ được. Đó là những thông điệp mà bài ca dao trên muốn gửi đến mọi người.

ĐỀ 4: Ca dao dân ca, nét đẹp tâm hồn người Việt.

     Làng quê Việt Nam ở đâu cũng vậy, ẩn chứa trong nó bao điều gần gũi và thân thương. Mỗi một miền quê đều có những câu hò, điệu hát rất chung mà lại rất riêng, mang âm hưởng của từng vùng, miền. Tất cả cùng hòa vào câu thơ, giọng hát của những làn điệu, tạo thành dòng ca dao dân ca Việt Nam rất đa dạng và phong phú.
   Ca dao dân ca, xét về góc độ tư duy của dân tộc, là tấm gương bức xạ hiện thực khách quan của mỗi dân tộc với lối sống, điều kiện sống và những phong tục tập quán riêng. Hình ảnh về thiên nhiên, cuộc sống, về truyền thống dân tộc, quan hệ xã hội được phạm trù hóa theo những cách khác nhau, bằng những hình thức ngôn ngữ khác nhau. Nghiên cứu về ca dao dân ca không chỉ cho thấy những nét đẹp văn hóa của người Việt Nam mà còn làm nổi bật lên tinh thần lạc quan, yêu đời, yêu người thiết tha. Ca dao dân ca là kết tinh thuần tuý của tinh thần dân tộc, là nét đẹp trong văn hóa dân gian Việt Nam. Với cội nguồn lịch sử và chữ viết rất phong phú đa dạng nên ca dao và dân ca có mặt ở Việt Nam từ rất sớm. Các công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian, cũng như các nhà khoa học có liên quan đã khẳng định một trong những dấu tích của ca dao cách chúng ta khoảng trên dưới 2.500 năm. Điều này được thể hiện rất rõ qua các hoa văn trên trống đồng và các hiện vật khảo cổ cùng niên đại. Phân tích các họa tiết hoa văn trên trống đồng, nhiều người đã tìm thấy ở đây hình ảnh lễ thờ nữ thần Mặt Trời cũng là nữ thần Nông nghiệp. Trong lễ hội này đã sử dụng các hình thức âm nhạc, thanh nhạc múa hát và các nhạc khí.
Câu nói, làn điệu, giọng hát là những đòi hỏi bức thiết nảy sinh trong đời sống xã hội, qua thời gian, những câu nói hay, những làn điệu hấp dẫn đã được nhân dân sưu tập và gìn giữ. Cùng xuất phát từ hoàn cảnh thực tế của đời sống xã hội và trí tuệ của nhân dân đúc kết nên. Qua lời ca, câu hát, ca dao và dân ca Việt Nam là những câu nói đúc kết những kinh nghiệm sống, những quan niệm về nhân cách, nhân đức ở mỗi con người. Càng đi sâu vào tìm hiểu ca dao dân ca, chúng ta sẽ thấy được những nét tài hoa, óc sáng tạo đầy tinh thần thẩm mỹ. Tuy nhiên ở mỗi loại hình lại có những đặc điểm riêng biệt.
Ca dao dân ca là loại hình văn nghệ truyền miệng, là một hình thức văn hóa dân gian đã có từ rất lâu. Nó có thể là một câu nói triết lý bao hàm một nội dung giáo dục của ai đó. Trải qua thời gian, mọi người thấy đúng và nghe theo, thậm chí họ có thể thêm vào hoặc bớt đi để đúng với từng hoàn cảnh cụ thể. Vì vậy, có thể nói ca dao dân ca là của quần chúng nhân dân sáng tác nên và họ có thể sáng tác trong bất cứ hoàn cảnh nào, trong lễ hội, trong lao động sản xuất. Có một câu ca dao rất ý nghĩa, không chỉ nói lên quan niệm triết lý của người Việt Nam mà đó còn là một câu nói thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó với nhau, thể hiện sức mạnh của tập thể:
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại thành hòn núi cao.
Chất trí tuệ, giàu tư tưởng tình cảm trong ca dao dân ca là những nguồn nhựa sống bổ sung cho văn hóa dân gian thêm phong phú và đậm đà bản sắc. Tuy cũng là câu nói, giọng điệu cùng với một cái nôi xuất phát nhưng không phải câu ca dao nào cũng có thể trở thành dân ca và ngược lại, ở mỗi thể loại lại có thêm những ưu thế bổ sung ứng dụng trong từng hoàn cảnh của thực tế đời sống. Theo cách hiểu thông thường, ca dao là lời của các bài dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy hoặc ngược lại là những câu thơ có thể bẻ thành những làn điệu dân ca. Như vậy giữa ca dao và dân ca không có ranh giới rõ ràng. Ca dao là những câu nói phổ thông trong dân gian. Ca dao người Việt thường được cấu tạo bằng hai câu lục bát, một thể thơ rất âm điệu tiếng Việt. Khi có nhiều câu kết thành một đoạn ngắn thì gọi là dân ca, vì vậy ranh giới giữa ca dao và dân ca là một sợi chỉ rất mỏng manh. Ca dao là lối văn truyền khẩu, trước tiên là do một người vì xúc cảm mà phát hiện ra, rồi vì lời hay, ý đẹp mà lan truyền trong dân gian và truyền mãi từ đời này qua đời khác. Tuy ca dao xuất phát trong giới bình dân nhưng nhiều câu rất nên thơ và ý nghĩa đậm đà, dễ xúc cảm người nghe nên được nhiều người để tâm sưu tầm:
Có cha, có mẹ có hơn
Không cha, không mẹ như đàn không dây.
Mẹ cha như nước, như mây,
Làm con phải ở cho tầy lòng con.
Câu thơ không chỉ nói về công đức sinh thành, giáo dưỡng của cha mẹ mà còn khuyên nhủ, răn dạy mọi người phải ăn ở sao cho đúng đạo làm con. Âu đó cũng là triết lý, quan điểm sống của mỗi con người chúng ta. Hoặc đó cũng có thể là những câu nói khuyên răn về quan hệ giữa anh em, bạn bè:
Anh em như chân, như tay
Như chim liền cánh, như cây liền cành.
Hoặc là những câu ngợi ca tình yêu lao động, trân trọng những giá trị của sự lao động:
Ai ơi bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.
Chính vì khả năng dễ nói, dễ tiếp thu, ca dao đã đi vào đời sống của nhân dân một cách rất tự nhiên và trong mọi hoàn cảnh.
Trong mỗi chúng ta ai cũng có một miền quê, quê hương là cánh đồng lúa thơm ngát, luỹ tre xanh trải dài dọc bờ đê, là những hình ảnh thân thương nhất đối với cuộc sống mỗi con người. Hai tiếng quê hương nghe gần gũi và thân thương, đó là nơi chôn nhau cắt rốn, nơi đã nuôi dưỡng ta trưởng thành. Qua ca dao dân ca những hình ảnh của miền quê như trở nên gần gũi hơn, lung linh hơn nhờ những ca từ đầy hình ảnh. Khi nói đến dân ca, chúng ta không thể quên những lời ru con thiết tha trìu mến, qua tiếng ầu ơ mẹ ru con, những hình ảnh của miền quê yêu dấu của biển rộng non cao, của gió Lào cát cháy, những người mẹ năm tháng tảo tần một nắng hai sương nuôi dậy con khôn lớn. Những lời hát ru của mẹ đã hòa đồng với tâm hồn trẻ thơ, vừa đằm thắm nhẹ nhàng nhưng cũng không kém phần trầm tư sâu lắng. Trong câu hát của mẹ có ánh trăng soi rọi như đưa con vào giấc ngủ êm đềm, có áng mây trôi bồng bềnh trên đỉnh núi, có dòng sông bên lở bên bồi, có mặt biển long lanh ánh bạc và những con thuyền thấp thoáng ngoài khơi xa. Nghe lời ru của mẹ, trẻ thơ như được tiếp thêm nguồn dự trữ lớn lao về lòng yêu quê hương, đất nước, chắp cánh cho tuổi thơ của con thêm vững bước và sáng ngời niềm tin.
Lấy nguồn cảm hứng từ thực tế cuộc sống, ca dao dân ca được sáng tạo nên, đó là lời ăn, tiếng nói của ông cha ta tích lũy từ ngàn đời. Đó là những câu nói đúc kết từ những kinh nghiệm sản xuất răn dậy con cháu, bao hàm những nội dung mang ý nghĩa triết lý dậy bảo rất sâu sa. Đó là những câu hát được truyền tải bằng âm thanh giọng điệu ngôn ngữ với nội dung nghệ thuật phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc. Giống như đại thi hào Macxingocki đã nhận định: con người không thể sống mà không vui sướng được. Họ phải biết cười đùa, họ sáng tạo nên những bài hát vui tươi, họ thích nhẩy múa. Bởi vậy, ca dao dân ca là sản phẩm văn hoá tinh thần và cần thiết đối với mỗi dân tộc, con người.
Trong câu hát ru của người mẹ Thanh Hoá, câu ca dao: Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau như một lời nhắn nhủ của người mẹ với đứa con thơ về tình nghĩa đạo lý ở đời, phải ăn ở thuỷ chung trước sau như một, đầy ắp tình thương và tình người. Từ thực tế cuộc sống những câu hát dân gian, những lối nói chân thành chất phác nhưng cũng không kém phần triết lý sâu sẵc, thực tế là những cái hay, cái tinh tuý của dân tộc được kết tinh từ cuộc sống hàng ngày. Trong ứng xử giao tiếp ông cha ta đã có vô vàn những câu nói đúc kết về những lối nói, những hành vi ứng xử khéo léo, lịch sự và duyên dáng.
Trong ca dao thì tiếng chào không chỉ nói lên phép lịch sự của con người Việt Nam mà tiếng chào còn là cái cớ để những đôi trai gái làm quen với nhau, đó là những lời chào bắt duyên trong văn học dân gian:
Gặp nhau ăn một miếng trầu
Mai ra đường cái gặp nhau ta chào.
Hoặc:
Đôi ta như đá với dao,
Năng liếc thì sắc, năng chào thì quen.
Nhưng năng chào cũng chưa đủ, chào phải đúng lúc, đúng chỗ:
Gặp nhau đường vắng thì chào
Gặp nhau giữa chợ lao xao xin đừng.
Câu thơ, giọng hát với cái đích là phục vụ nhân sinh. Con người luôn có hoài bão vươn tới cái hay, cái đẹp, cái thanh tao của cuộc sống là chân, thiện, mỹ, cho nên ca dao dân ca không chỉ là những bài hát ngắn dài, vần, vè về câu chữ, nhịp điệu trầm bổng du dương để quên nguôi cảnh buồn tẻ, trống trải mà thực tế nội dung ý nghĩa còn mang tính nhân văn sâu sắc:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ, kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Bên cạnh ý nghĩa là công nuôi dưỡng, sinh thành như trời bể của cha mẹ, câu ca dao này còn được hiểu rộng ra với những nét nghĩa rất phong phú.
Ca dao dân ca là sản phẩm được sáng tạo bởi quần chúng nhân dân, nội dung mang tính chất chung cũng lại rất riêng, gần gũi với tập quán sinh hoạt của con người. Ngay từ thủa lọt lòng, ca dao dân ca đã giành cho trẻ những bài hát đơn sơ, mộc mạc nhưng du dương, ngọt ngào để đưa trẻ vào giấc ngủ êm đềm. Chuyển sang tuổi ấu thơ, các em lại được cất lên nhưng bài hát đồng dao để vui chơi giải trí, luyện cho trẻ quen với tiếng nói, tiếp cận với thiên nhiên, tìm hiểu những vấn đề xã hội nảy sinh trong đời sống hàng ngày. Khi trưởng thành, trai gái lại tụ họp nhau lại thi hát đố, hát giao duyên và các bài hát vui chơi trong đời sống. Đó là những tập tục rất phong phú, làm nảy nở thêm tinh thần lạc quan, yêu đời, yêu người thiết tha.
Với nội dung truyền tải rất đa dạng và phong phú đời sống xã hội cho nên ở mỗi chủ đề, mỗi một lĩnh vực chúng ta có thể thấy vô vàn những câu nói, lối nói rất mộc mạc, dễ hiểu. Nhà văn Nguyễn Đình Thi đã nhận xét rằng: ca dao Việt Nam bắt nguồn từ tinh thần ham sống, ham đấu tranh, vui vẻ, tế nhị, có duyên nhưng cũng không kém phần dồi dào tình cảm, mạnh mẽ sức lực, nảy nở tự do để đón ánh sáng trời hòa hợp với cỏ cây, hoa lá. Nó như một nguồn nhựa sống để nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ, chắp cánh cho thế hệ tương lai những hoài bão lớn lao về cuộc sống, thiên nhiên và con người. Như vậy có thể nói ca dao và dân ca Việt Nam là kho tàng văn hóa, tri thức dân gian, phản ánh những phong tục, tạp quán, tâm tư nguyện vọng của con người Việt Nam, tạo thành một hệ thống hình ảnh thiên nhiên, con người và lao động cùng hoà quyện vào nhau, tạo dựng nên cách nghĩ, cách cảm về cuộc sống, thiên nhiên và con người rất Việt Nam.
(Theo: http://tranquanghai.info/)

IV. MỘT SỐ ĐỀ CHO HỌC SINH VỀ NHÀ LUYỆN THÊM

1.Phân tích vẻ đẹp của một số bài ca dao sau:
- “Cô kia đứng ở bên sông
Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang”
- “Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi”
- “Ước gì anh hóa ra gương
Để cho em cứ ngày thường em soi
Ước gì anh hóa ra cơi
Để cho em đựng cau tươi trầu vàng”
Gợi ý:
I.Mở bài:
                  Kho tàng ca dao Việt Nam rất đa dạng, phong phú, sâu sắc về ý nghĩa tư tưởng và giá trị nghệ thuật, là “thơ của mọi nhà”, là tấm gương soi của tâm hồn và đời sống cả dân tộc; là khát khao, niềm tự hào khôn xiết về cái cách mà những con người lao động Việt Nam, trực tiếp bày tỏ lòng mình mà không cần đến mất kỳ khuôn khổ thơ chính quy nào. Họ gửi gắm vào đó là yêu thương, sướng vui, đau khổ, là ước mơ, hoài bão… Không nằm ngoài chuỗi sáng tác mang đề tài yêu thương, tình nghĩa làm nên bản sắc văn hóa dân gian, những bài ca dao dưới đây thể hiện được khát vọng yêu thương và được yêu thương mãnh liệt, đồng thời cũng là ước mơ về một tình yêu tự do nơi trái tim những đôi lứa yêu nhau. (Trích dẫn ca dao)
II.Thân bài
1. Trong chủ đề ca dao yêu thương có không ít bài nói về khát khao gặp gỡ, làm quen nhau của các chàng trai, cô gái:

“Cô kia đứng ở bên sông
Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang”
- Chàng xưng hô với cô gái là “anh – cô kia” thể hiện mối quan hệ giữa hai người còn xa lạ, chưa quen biết nhau.
- Sử dụng hình ảnh ẩn dụ “chiếc cầu”, “cành hồng” thật đặc sắc.
+ Hình ảnh “chiếc cầu” thường gợi ta liên tưởng đến vật nối liền hai bờ vui.
+ Hình ảnh ẩn dụ “cành hồng” gợi ta khát khao nối liền hai trai tim, hai tâm hồn đang rạo rực như màu đỏ thắm của hoa hồng.
 --> Khát khao được gặp gỡ, làm quen với người mình yêu thương là một khát khao chính đáng.
-  Nhưng “cành hồng” thì bao giờ cũng có gai, thể hiện con đường gặp gỡ, làm quen nhau không được thuận lợi. Nó bị kìm hãm bởi những quan niệm xưa cũ, lạc hậu--> làm tan nát trái tim của những con người đang yêu.
Tác giả dân gian đã rất khéo léo sửa dụng hình ảnh ẩn dụ “cành hồng” làm nét riêng cho bài ca dao này.

2. Bên cạnh đó, ca dao Việt Nam còn có những bài thể hiện khát khao yêu đương, gặp gỡ nhau:
“Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi”
- Chiếc cầu độc nhất vô nhị- Cầu dải yếm nối liền 2 bờ nhớ thương --> tác giả dân gian đã thể hiện đươc mong muốn, ước mơ của nhân vật trữ tình.
+ nhân vật trữ tình là cô gái đã gọi người mình yêu là chàng rất thân thiết và nhẹ nhàng.
+ Hình ảnh chiếc yếm mềm mại với màu sắc tươi tắn là vật gần gũi với người con gái, vật gần nhất với trái tim --> thể hiện ý muốn của cô gái được gần gũi với người mình yêu. --> Những dòng thơ đã diễn tả được nội tâm nhân vật trữ tình, là một hình ảnh trưng cho các thiếu nữ đang yêu, mang một mong ước rất giản dị và chính đáng- Được gặp gỡ người mình yêu.
+ niềm mong ước của cô gái muốn được ở gần với người mình yêu một cách táo bạo, đầy nữ tính nhưng vẫn thể hiện nét chung của bài ca dao yêu thương tình nghĩa là nói lên mong ước chính đáng để được gần nhau của đôi lứa đang yêu.
Đúng thật là ca dao dùng để bày tỏ tâm sự, tình cảm của người bình dân.Và nó sẽ là những viên ngọc sáng mãi cùng thời gian.


3. Trong những tình cảm thiêng liêng của con người thì tình yêu đôi lứa luôn là tình yêu đẹp nhất. Ở bài ca dao thứ ba trong khối ca dao về chủ đề “Yêu thương tình nghĩa”, chúng ta đã dần thấy rõ được mong muốn mạnh mẽ của chàng trai đối với cô gái, được ở bên nhau trọn đời qua các câu thơ lục bát thấm đẫm chất trữ tình
                                                               “Ước gì anh hóa ra gương                                          
Để cho em cứ ngày thường em soi
Ước gì anh hóa ra cơi
Để cho em đựng cau tươi trầu vàng”
- Sử dụng điệp ngữ “ước gì” hai lần một cách dứt khoát, thể hiện ước nguyện chính đáng và trong sáng của chàng trai đó, về sự chung đôi với cô gái qua các từ “gương”, “cơi”.
+ “Gương” là vật dụng hằng ngày các cô gái thường sử dụng để làm đẹp cho chính bản thân, thì ở đây, chàng trai cũng muốn được bên người con gái đó mỗi ngày.
+ “Cơi” và “cau tươi trầu vàng” là những thứ luôn gặp trong các đám cưới. Ước nguyện được cưới cô gái, được cùng ăn đời ở kiếp với cô cho đến cuối đời mình, vì lẽ “cơi” luôn đồng hành với “cau”, “trầu”.
+ “Cau tươi trầu vàng” còn thể hiện sự linh thiêng, bất tử của tình yêu đã đến gần nhau.
- NT: Bài sử dụng phép lục-bát một cách nhẹ nhàng, uyển chuyển, sử dụng nhiều từ gần gũi, thân mật hơn, đồng thời đã nêu rõ được ước nguyện của các đôi lứa yêu nhau là mong muốn yêu và được yêu, được bên nhau trọn đời như trầu-cau vậy.
Bài ca dao trên đã cho ta thấy một cách tỏ tình hết
sức giản dị mà lại sâu sắc. Khát vọng yêu và được yêu
      2.Phân tích bài ca dao
 Trèo lên cây khế nửa ngày,
Ai làm chua xót lòng nay, khế ơi !
Mặt trăng sánh với mặt trời
Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng
Mình ơi có nhớ ta chăng?
Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời. 
DÀN Ý
Bài ca dao này mở đầu bằng lối đưa đẩy gợi cảm hứng: Trèo lên cây khế nửa ngày, gần giống với Trèo lên cây bưởi hái hoa ở một bài ca dao quen thuộc khác. Những bài như thế thường là lời thở than, tiếc nuối cho duyên phận lỡ làng của các chàng trai nghèo ở nông thôn xưa.
Câu mở đầu nêu ra một tình huống khá đặc biệt:
 Trèo lên cây khế nửa ngày.
Tuy không có chủ ngữ nhưng người đọc vẫn có thể hình dung ra nhân vật trữ tình là chàng trai đang trong tâm trạng cô đơn, buồn bã. Chuyện tình cảm riêng tư khó bày tỏ với người. Thôi thì chia sẻ với cỏ cây cho vơi sầu, bớt khổ:
Ai làm chua xót lòng này, khế ơi!
Đại từ phiếm chỉ Ai ở đây mang ý nghĩa khá rộng. Có thể là con người cụ thể nào đó, mà cũng có thể là những ngăn trở vô hình nhưng rất khó vượt qua như quan niệm môn đăng hộ đối, như định kiến phân biệt sang hèn, giàu nghèo trong xã hội… Nhưng dù là gì chăng nữa thì nó cũng là trở lực đáng sợ đối với những đôi lứa đang yêu, muốn tiến tới hỗn nhân, Nó là nguyên nhân dẫn đến sự dở dang hoặc tan vỡ của những cuộc tình.
Hỏi khế mà cũng là tự hỏi mình. Nhân hóa kín đáo qua cách gọi tha thiết khế ơi, khiến cho cây khế cũng mang tâm trạng của một kẻ đồng bệnh tương liên. Câu hỏi tu từ trên như mũi dao vô hình xoáy sâu vào trái tim yêu đang rỉ máu. Nghệ thuật chơi chữ tinh tế ẩn sau câu hỏi ấy. Lòng khế chua chát có nét giống với lòng người chua xót. Cảm giác chua xót, cay đắng tràn ngập cõi lòng chàng trai, nhưng không vì thế mà lụi tàn ngọn lửa hi vọng. Chàng trai mượn quy luật của vũ trụ để khẳng định quy luật của tình yêu:
Mặt trăng sánh với mặt trời,
Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng.
Vạn vật đều có đôi có lứa, vậy tại sao chúng mình lại phải xa nhau? Ai nhẫn tâm chia cắt tình duyên đôi lứa, để anh thì lặng đi trong chua xót. Còn em, chắc cũng rơi vào tâm trạng đau khổ, giày vò, nếu như em thực lòng yêu thương, gắn bó với anh. Dẫu bị ngăn trở, dẫu phải xa nhau, nhưng anh vẫn nghĩ chúng ta là một cặp khăng khít không thể tách rời; như Mặt trăng sánh với mặt trời, như Sao Hôm sánh với sao Mai, tuy hai mà một.
 
So sánh như thế cũng là một cách khẳng định mạnh mẽ về tình yêu và lòng chung thủy, về khát vọng hạnh phúc chân chính. Nhưng dù mượn đến những sự vật lớn lao, vĩnh hằng trong vũ trụ để bày tỏ lòng mình, chàng trai cảm thấy vẫn chưa đủ, chưa thể hiện hết được những điều muốn nói. Cần phải để trái tim tự nói lên những lời yêu thương chân thành nhất:
Mình ơi! Có nhớ ta chăng ?
Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời.
Những hình ảnh vay mượn dù đẹp đến đâu cũng không có giá trị biểu cảm bằng câu hỏi mộc mạc, tự nhiên mà rung động, thấm thía tận đáy lòng. Gọi người yêu là Mình ơi!, chứng tỏ sự gắn bó giữa chàng trai và cô gái đã đến mức sâu đậm, khó có thể xa lìa. Mình ơi có nhớ ta chăng? Có nhớ những kĩ niệm đẹp đẽ trong tình yêu giữa ta và mình. Còn ta, trước sau vẫn đinh ninh một lời thủy chung, son sắt:
 Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời.
Sao Vượt là tên gọi dân gian của sao Hôm, thường mọc vào buổi tối, nhất là những đêm có trăng. Sao mọc đợi trăng lên, sao lặn chờ trăng lặn. Đó là quy luật muôn đời của thiên nhiên mả cũng là quy luật bất di bất dịch của tình yêu anh dành trọn cho em!
Cái độc đáo của bài ca dao vừa phân tích ở trên chính là sự kết hợp tự nhiên, hài hòa giữa hai yếu tố dân gian và bác học. Chúng được đặt cạnh nhau, thậm chí lổng vào nhau mà không gây cảm giác ép buộc, khiên cưỡng. Ngược lại, chúng bổ sung cho nhau để tô đậm và làm nổi bật tâm trạng chủ đạo của chàng trai trong hoàn cảnh cô đơn, xa cách người yêu. Bài ca dao không chỉ nói hộ tâm sự của một chàng trai mà là muôn ngàn chàng trai đang lao đao, lận đận trên con đường tình yêu đầy trắc trở.

3. Phân tích bài ca dao:

Thân em như củ ấu gai,
Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen.
Ai ơi nếm thử mà xem !
Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi.
DÀN Ý
Ca dao - dân ca phản ánh sinh động đời sống tình cảm phong phú của nhân dân lao động. Họ đã gửi gắm vào đó tiếng nói tâm tình chân thành tha thiết, với  đủ mọi cung bậc buồn vui. Nhiều câu ca dao về hình thức và nội dung có những nét giống nhau nhưng mỗi câu lại mang một vẻ đẹp riêng, phù hợp với từng hoàn cảnh và tâm trạng nhân vật khác nhau. Ví dụ một số câu mở đầu bằng cụm từ Thân em và nội dung cùng đề cập đến phẩm chất tốt đẹp, cao quý cùng số phận hẩm hiu, bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày xưa.
Bài ca dao nhấn mạnh đến giá trị đích thực của người con gái. Người phụ nữ nông dân vất vả, làm lũ quanh năm đã tự so sánh:
Thân em như củ ấu gai.
Cái củ ấu gai góc, đen đủi sống dưới bùn sâu, chẳng mấy ai để ý tới, dẫu rằng bên trong nó vừa trắng, vừa ngọt, vừa bùi:
                                  Ai ơi, nếm thử mà xem!
Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi.
Phải  bộc bạch  kĩ và mời mọc da diết đến vậy bởi vì phẩm chất tốt đẹp của họ ít ai biết đến. Sự khẳng định giá trị ấy chứa đựng một nỗi ngậm ngùi chua xót cho thân phận người con gái nghèo khổ trong xã hội cũ.
Bài ca dao nói lên quyền sống của người phụ nữ xưa kia, mà trước hết là quyền tự do hoàn toàn bị phủ nhận. Đó chính là nguồn gốc của mọi đau khổ, ngang trái mà họ phải chịu đựng trong suốt cuộc đời.
I. KHÁI QUÁT CHUNG
1. Nội dung
- Ca dao hài hước chiếm một số lượng lớn trong kho tàng ca dao Việt Nam, thể hiện tâm hồn yêu đời, lạc quan cũng như sự thông minh, dí dỏm, hài hước của người bình dân xưa. Số ít còn thể hiện tinh thần đấu tranh chống lại cái xấu và sự áp bức, bất công trong xã hội.
- Được chia làm ba loại:
+ Tiếng cười tự trào: là tiếng cười lạc quan yêu đời của người lao động, dù họ phải sống trong cảnh nghèo.  
+ Tiếng cười hài hước châm biếm.
+ Tiếng cười đả kích giai cấp thống trị.
2. Nghệ thuật
- Thể hiện tập trung các nét đặc sắc của nghệ thuật trào lộng dân gian để làm bật lên tiếng cười mang nhiều sắc thái khác nhau.
+ Tạo mâu thuẫn, đối lập.
+ Phóng đại, khoa trương.
+ Chơi chữ.
+ Dùng ngôn ngữ đời thường mà hàm chứa ý nghĩa sâu sắc.

II. LUYỆN ĐỀ ( Tiếp)

ĐỀ 1. Tiếng cười lạc quan qua bài ca dao:
Cưới nàng, anh toan dẫn voi,
Anh sợ quốc cấm, nên voi không bàn.
Dẫn trâu, sợ họ máu hàn,
Dẫn bò, sợ họ nhà nàng co gân.
Miễn là có thú bốn chân,
Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng.
Chàng dẫn thế em lấy làm sang,
Nỡ nào em lại phá ngang như là…
Người ta thách lợn thách gà,
Nhà em thách cưới một nhà khoai lang:
Củ to thì để mời làng,
Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi.
Bao nhiêu củ mẻ, chàng ơi!
Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà;
Bao nhiêu củ rim, củ hà,
Để chò con lợn, con gà nó ăn…

DÀN Ý CHI TIẾT
       Ca dao - dân ca là một thể loại văn học dân gian có khả năng đi sâu phản ánh mọi mặt cuộc sống của nhân dân lao động. Phong tục cưới xin cũng là một để tài quen thuộc mà ca dao thường quan tâm, miêu tả. Với cái nhìn hóm hỉnh, hài hước, tác giả dân gian phản ánh phong tục cưới xin ngày xưa qua bài ca dao sau đây:
Cưới nàng, anh toan dẫn voi,
(…)
Để chò con lợn, con gà nó ăn…
        Bài ca dao thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người lao động : dù trong cảnh sống nghèo khó vẫn luôn lạc quan, yêu đời. Đám cưới nghèo đến vậy mà vẫn vui. Người bình dân đã tìm thấy niềm vui ngay trong cảnh nghèo như thế.
Đây là tiếng cười tự trào của người bình dân trong ca dao. Người lao động tự cười mình trong cảnh nghèo. Lại chọn đúng cảnh đám cưới là lúc bộc lộ rõ nhất cái nghèo để cưới, để vui, để thể hiện lòng yêu đời, ham sống. Khi người ta tự cười mình thì tiếng cười ấy bộc lộ rõ nhất bản lĩnh và quan niệm sống của họ. Vậy thì ở đây, người nông dân đã tự cười mình như thế nào và tiếng cười ấy đã cho ta thấy tâm hổn của họ ra sao?
        Bài ca dao là cuộc đối thoại lí thú giữa chàng và nàng. Các tác giả dân gian đã mượn hình ảnh trào lộng, hài hước để thể hiện nội dung trữ tình. Tình yêu của chàng trai và cô gái sắp sửa tiến tới hôn nhân. Để đi tới trăm năm hạnh phúc, đôi trai tài gái sắc còn phải bước qua cửa ải xin cưới, dẫn cưới, đây cũng là tập tục gây trở ngại cho không ít cặp uyên ương.
    Đứng trước sự việc hệ trọng của đời người, chàng và nàng không còn mơ mộng như lúc mới yêu nhau được nữa. Hai người đã tâm sự, bàn bạc với nhau  trước khi chính thức trình quan viên hai họ về dự định cho đám cưới nay mai.
    Sự lí thú bắt đầu từ chỗ chàng trai chủ động kể về những lễ vật mà mình toan dẫn cưới khi anh ta chưa hể hỏi người yêu là nhà gái thách cưới những gì. Chàng trai hồn nhiên giãi bày:
Cưới nàng, anh toan dẫn voi,
Anh sợ quốc cấm, nên voi không bàn.
Dẫn trâu, sợ họ máu hàn,
Dẫn bò, sợ họ nhà nàng co gân.
Miễn là có thú bốn chân,
Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng.
     Lời tâm sự bộc lộ hoàn cảnh, tấm lòng, tính nết, tâm tư, nguyện vọng của chàng trai. Nhà nghèo thật nhưng cưới vợ chẳng lẽ lại không có lễ vật dẫn cưới theo đúng phong tục ? Sự khoác lác, ba hoa của chàng trai được tác giả hé mở qua từ toan: Cưới nàng, anh toan dẫn voi… một ý định phi lí khó có thể thành hiện thực. Chàng trai đã khôn ngoan đưa ra những lễ vật chỉ có trong tưởng tượng của mình. Đó là voi, trâu, bò… toàn những con vật quý hiếm hoặc đắt tiền, có khi cả đời anh ta không thể nào mua được.
        Để trấn an người yêu, bằng lối nói khoa trương, phóng đại, chàng trai đã dõng dạc lặp lại ba lần với vẻ tự tin như đinh đóng cột: dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò. Chàng trai đã tưởng tượng ra lễ cưới thật sang trọng, lình đình. Ai ngờ mỗi lần công bố lại là một lần thay đổi, mỗi lần thay đổi lại được giải thích bằng lí do nực cười: dẫn voi / sợ quốc cấm, dẫn trâu / sợ máu hàn và dẫn bò/ sợ họ nhà nàng co gân. Lí lẽ của chàng trai thoạt nghe cũng có vẻ chấp nhận được. Chàng giải thích lí do không dẫn các lễ vật nêu trên một cách khôn ngoan: phần vì tôn trọng luật pháp, phần vì lo lẳng cho sức khỏe họ hàng nhà gái (từ sợ được lặp lại ba lần). Đúng là một chàng rể chu đáo, cẩn thận, ai nỡ ngờ vực lòng thành của chàng.
       Đọc kĩ, ta sẽ thấy với lối nói giảm dẫn: voi - trâu - bò - chuột, chàng trai đã khéo léo đánh đồng con voi, con trâu, con bò với con chuột, vì chúng đều là thú bốn chân! Sự khéo léo còn được tô vẽ bằng hình ảnh hài hước: dẫn con chuột béo, tức là lễ vật cũng đàng hoàng, tươm tất để mời dân mời làng, nào có thua kém gì so với các lễ vật khác.
     Bằng biện pháp trào phúng sắc sảo, các tác giả dân gian đã chi ra sự lúng túng, bao biện của chàng trai. Sự khoe khoang, khoác lác dù có tinh ranh đến đâu, lập luận khôn ngoan đến mấy thi cuối cùng sự thật cũng bị phơi bày trước con mắt của cô gái.
       Như trên đã nói, tuy cô gái chưa nêu ra điều kiện dẫn cưới nhưng chàng trai đã vội vã công bố lễ vật dẫn cưới của mình. Lễ vật lúc đầu thì to tát, sang trọng, càng về sau càng giảm và rốt cuộc chỉ là một con chuột béo, làm cho ai ai cũng phải ngơ ngác, ngạc nhiên. Thành ngữ Đầu voi đuôi chuột bắt nguồn từ đây chăng?
        Nhưng ngược lại, cô gái trong bài ca dao lại thản nhiên, bình tĩnh, không chê bai, không từ chối mà còn khen: Chàng dẫn thế em lấy làm sang. Nỡ nào em lại phá ngang như là.., Bởi cô gái đã đi guốc vào bụng người yêu. Cô còn lạ gì tính sĩ diện của chàng trai muốn làm đám cưới thật linh đình trong khi nhà nghèo, tiền nong chẳng có. Cô gái  thông minh đã bắt thóp được điểm yếu của chàng trai. Bằng tấm lòng chân thành của người vợ tương lai, cô ôn tồn giãi bày ý định của mình:
 Người ta thách lợn thách gà,
Nhà em thách cưới một nhà khoai lang.
       Cưới xin là việc hệ trọng nhất trong đời người con gái, vậy mà cô chi thách có… một nhà khoai lang! Kể cũng lạ đời! Nhưng như vậy là đủ lắm rồi, vì nhà em nghèo mà nhà anh cũng nghèo. Thái độ không mặc cảm mà còn chấp nhận cảnh nghèo khiến cho lời thách cưới lạ lùng bỗng trở nên dí dỏm, đáng yêu. Hơn thế nữa, lời thách cưới của cô gái còn chứa đựng một triết lí nhân sinh của người lạo động thuở xưa: coi tình nghĩa quý hơn của cải.
Cô gái không đả động đến những vật dẫn cưới như voi, trâu, bò, chuột… mà chàng trai vừa nêu ra. Hai từ đối lập Người ta và Nhà em chi ra hai lối suy nghĩ khác nhau. Chúng ta cũng không khỏi ngạc nhiên khi cô gái thách cưới bằng một lễ vật độc đáo, ít ai nghĩ đến: một nhà khoai lang. Cũng hài hước, dí dỏm nhưng chàng trai thì úp úp, mở mở; còn cộ gái lại thật thà như đếm. Bởi vì lễ vật mà cô thách cưới giản dị quá, tầm thường quá! Câu nói của cô như mở lòng, mở dạ cho chàng trai, khiến chàng thoát khỏi tình thế phân vân, lúng túng.
Một nhà khoai lang, mới nghe tưởng quá nhiều nhưng thực tế đó là thử lễ vật xoàng xĩnh, chàng trai có thể kiếm được. Dân tộc ta bao đời nay sống bằng lúa ngô, khoai sắn. Lễ vật tuy bình thường nhưng ý nghĩa thì sâu xa, thấm thía.
               Để cho người yêu an tâm không còn băn khoăn gì nữa, cô gái giải thích cặn kẽ:
 Củ to thì để mời làng,
Còn như củ nhỏ họ hàng ăn chơi.
          Làng là các vị chức sắc trong làng xã, mỗi khi có ma chay, cưới hỏi, phải nghĩ đến họ trước tiên. Cô gái đã cẩn thận chọn những củ to để mời làng theo đúng lễ nghi. Còn khoản đãi bà con họ hàng, cô gái dùng những củ nhỏ hơn. Cùng cảnh ngộ thân cò, thân chim, ai mà không cảm thông, chia sẻ.
           Lo cho làng và họ hàng xong, cô gái mới quay về với gia đình mình:
Bao nhiêu củ  mẻ, chàng ơi!
Để cho  con trẻ ăn chơi giữ nhà.
Tiếng gọi chàng ơi!  như thổn thức tận đáy lòng cô gái. Cô muốn có sự đồng cam cộng khổ với người yêu. Cô tính toán tỉ mỉ: bao nhiêu củ mẻ sẽ để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà. Thật tội nghiệp nhưng không sao! Trẻ con, rất hồn nhiên, chúng không đòi hỏi gì cả, vì chúng hiểu nhà mình cũng rất nghèo.
          Cách suy tính của cô gái thật cụ thể, kĩ càng:
 Bao nhiêu củ rim, củ hà,
Để cho con lợn, con gà nó ăn…
             Tấm lòng chân thành của cô gái dành cho làng, họ hàng, con trẻ và còn cho cả con lợn, con gà nữa. Dường như cô muốn tất thảy đều vui vẻ chia sẻ với hạnh phúc của cô.
Còn kiếm đâu ra được cô gái chu đáo, đảm đang như cô gái này nữa ? Chàng trai chắc không còn băn khoăn, lo lắng. Đám cưới của hai người sẽ thuận buồm xuôi gió, Mối tơ vò của chàng trai đã được cô gái nhẹ nhàng, khéo léo tháo gỡ, họ thong dong đi vào cuộc sống lứa đôi hạnh phúc trăm năm. Kết thúc cuộc tình thật có hậu!
              Nghệ thuật hài hước, trào lộng kết tụ ở việc khắc họa hình ảnh chàng trai cố khoe mẽ để che đậy cảnh nghèo của mình và ở việc miêu tả thái độ chân thật, cởi  mở, nhẹ nhàng kiểu lạt mềm buộc chặt, nói ngọt lọt đến xương của cô gái.Bài ca dao thành công vì đã đối sánh hai tính cách, hai hướng suy nghĩ khác nhau. Đó là sự đối lập giữa tính sĩ
diện, đua đòi theo thói tục lạc hậu và sự sáng suốt, giản dị phù hợp với cuộc sống của quần chúng lao động.
             Đọc bài ca dao trào lộng Cưới nàng anh toan dẫn voi…, đằng sau tiếng cười hả hê có khi là nước mắt. Với sự thương yêu, đồng cảm trong cuộc sống, thuận vợ thuận chồng trong nếp nghĩ và công việc, những đôi lứa đang yêu nhất định sẽ sống hạnh phúc. Đó cùng là ước mơ của người bình dân tự ngàn xưa.

ĐỀ 2: Cảm nhận về bài ca dao

Làm trai cho đáng sức trai,
Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng.
Dàn ý
       Bài ca dao phản ánh những kẻ siêng ăn, biếng làm, châm biếm một anh chàng có thể trạng yếu ớt, chẳng làm được việc gì ra hồn.
        Bài ca dao vẽ nên một bức chận dung thật hài hước và thú vị bằng nghệ thuật phóng đại kết hợp với thủ pháp đối lập. Người xưa thường ngợi ca sức trẻ, sức trai dời non lấp bể. Trẻ con hay hát bài đồng dao: Gánh gánh gồng gồng, gánh sông gánh chợ. Cao hơn nữa, phận sự của các trang nam nhi là gánh nợ nước non. Vậy mà ở đây chàng trai yếu ớt một cách bất thường.
Trong cuộc đời, có thể có những chàng trai yếu đuối nhưng không ai lại yếu đến mức chi gánh nổi có… hai hạt vừng. Hài hước ở chỗ là anh ta phải khom lưng chống gối, có nghĩa là phải ráng hết sức mới có thể gánh được. Tiếng cười vang lên từ những chi tiết đối lập ngoài sức tưởng tượng như thế.
          Qua giọng điệu, ta có thể hiểu nội dung của câu ca dao theo hai nét nghĩa. Một là thể trạng ốm yếu của anh chàng là do cha mẹ  sinh ra, nhưng anh ta không chịu rèn luyện để có được một thân thể cường tráng, khỏe mạnh. Hai là chàng trai này quá lười biếng, nhu nhược, không có dũng khí trong cuộc sống, không dám gánh vác những trọng trách lớn lao trong gia đình và ngoài xã hội. Hạng đàn ông như vậy chỉ là gánh nặng cho mọi người mà thôi.
                 MỘT SỐ ĐỀ ĐỌC THÊM
      1. Chồng người đi ngược về xuôi,
                          Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo.
DÀN Ý
Bài ca dao này nói về tâm sự buồn bã, thất vọng và xấu hổ của người vợ có anh chồng lười nhác, hèn kém về mọi mặt.
Cặp từ Chồng người… Chồng em như một cặp đối xứng chứa đựng ý nghĩa so sánh hơn thua. Chị vợ không muốn hạ thấp tài và chí của chồng mình vì như dân gian đã nói: Xấu chàng hổ ai?. Nhưng hiện thực khách quan thì không thể bao che, bênh vực. Người vợ buộc phải thốt ra lời than thở về sự thực rất đáng buồn. Đó là cảnh trái ngược giữa Chồng ngườiChồng em, giữa hai thái cực đi ngược về xuôi, tung hoành ngang dọc, thỏa chí tang bồng và quanh quanh quẩn quẩn hết ngày này sang ngày khác ngồi bếp sờ đuôi con mèo - một việc làm vô bổ, vô ích và đáng cười. Đó là hình ảnh của những ông chồng đoản chí, nhút nhát, chỉ dám ra vào bảy xó nhà ba xó bếp. Họ không đáng mặt nam nhi, không thể là chỗ dựa đáng tin cậy của vợ con và xã hội.
Trong câu ca dao, hình ảnh người đàn ông hiện lên vừa hài hước vừa thảm hại. Tác giả dân gian đã thâu tóm đúng thần thái nhân vật trong một chi tiết thật đắt, có giá trị khái quát cao, tiêu biểu cho một loại đàn ông èo uột, lười nhác, ăn bám vợ. Chỉ tiết sờ đuôi con mèo vừa gây cười vừa hàm chứa ý nghĩa phê phán sâu xa: Anh chồng kia có khác gì con mèo lười nhác, trời rét chi quanh quẩn ở xó bếp để sưởi và… ăn vụng. Đó là loại đàn ông vô tích sự, không có phong độ của bậc nam nhi. Loại đàn ông này không ít trong xã hội và đã thành đối tượng châm biếm, chế giễu của ca dao:
Chồng người bể Sở sông Ngô,
Chồng em ngồi bếp rang ngô cháy quần.
                     *
Làm trai cho đáng nên trai,
Ăn cơm với vợ lại nài vét niêu.
                     *
Làm trai cho đáng nên  trai,
Vót đũa cho dài ăn vụng cơm con.
                      *
Ăn nó rồi lại nằm khoèo,
Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem.
   Qua bài ca dao hài hước đã phân tích ở trên, chúng tạ thấy nhân dân lao động xưa kia luôn kì vọng vào những trang nam nhi có đức, có tài. Thái độ đối với những kẻ lười biếng, hèn nhát là chế giễu, cười cợt; tuy thế tính giáo dục, xây dựng không kém phần sâu sắc. Tiếng cười trong từng câu ca dao có sức mạnh phê phán cái xấu, cổ vũ cái tốt, tôn vinh cái đẹp, mang lại cho người đọc không khí vui tươi, hổn nhiên nhưng vẫn không quên nhắc nhở nhau hãy tránh xa những thói hư tật xấu để con người ngày càng hoàn thiện hơn.
                   2. Đọc thêm bài ca dao:
Lỗ mũi mười tám gánh lông,
Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho.
Đêm nằm thì ngáy o o,
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.
Đi chợ thì hay ăn quà,
Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm.
Trên đầu những rạ cùng rơm,
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu.
DÀN Ý
       Từ xưa, nhân dân ta,đã lấy ca dao - dân ca làm vũ khí sắc bén đấu tranh với giai cấp thống trị áp bức bóc lột và phê phán các thói hư tật xấu trong nội bộ của mình. Tiếng cười vang lên mọi nơi, mọi  lúc, hấp dẫn già trẻ, gái trai, tạo nên một không khí vui vẻ làm vơi đi bớt nỗi mệt nhọc sau một ngày lao động vất vả. Trong ca dao, người phụ nữ vốn là đối tượng luôn được ưu ái nhưng trường hợp đặc biệt sau đây thì lại là đề tài đàm tiếu của công chúng:
Lỗ mũi mười tám gánh lông,
(…)
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu.
      Mục đích của bài ca dao hài hước này trước hết là để giải trí, nhưng đằng sau tiếng cười sảng khoái vẫn ngầm chứa một ý nghĩa châm biếm, chế giễu loại phụ nữ xấu người, xấu nết, rất khó được người lao động ở nông thôn chấp nhận.
    Bài ca dao phác thảo chân dung của hai nhân vật: cô vợ và anh chồng, mỗi người một vẻ, vừa trái ngược lại vừa đồng điệu. Cặp vợ chồng kì lạ này sẽ dẫn dắt mọi người đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác.
      Theo quan niệm dân gian thì người phụ nữ phải đẹp về hình dáng, làn da, gương mặt và đẹp cả về nết ăn nết ở. Người cọn gái phải biết chăm lo cho chồng con, gia đình và biết tự chăm sóc cho bàn thân mình. Nhưng ở bài ca dao này thì cô gái không được một nét nào. Trước hết, tác giả dân gian đặc tả cái lỗ mũi có một không hai của cô ta: Lỗ mũi mười tám gánh lông.
    Tiếng cười vang lên khi hình ảnh phóng đại bất ngờ xuất hiện ở câu ca dao đầu, bởi vì trên đời này không thể có người phụ nữ nào như vậy. Người ta thường nói gánh cỏ, gánh rơm, gánh thóc,  gánh lúa; còn ở đây, tác giả dí dỏm chơi chữ, dùng tử gánh lông kết hợp với số từ cường điệu mười tám để nhấn mạnh cái lỗ mũi kì dị của cô gái này. Quả là cô vợ có một cái mũi lạ lùng ngoài trí tưởng tượng. Ấy vậy mà có một người đàn ông hết lòng bênh vực cô ta, khẳng định đó là cái mũi quý giá, hiếm có trên đời: Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho.
      Chồng yêu thương, nâng đỡ, che chở cho vợ mình là lẽ đương nhiên ở đời, nhưng trong câu ca dao này, có phải do anh chồng quá yêu vợ hoặc sợ vợ đến mức mù quáng, mất hết tinh táo nên mới tâng bốc vợ mình một cách phi lí và quá đáng chăng ? Bởi vì râu rồng là một hình ảnh trang trọng, đẹp đẽ, không thể đem so sánh với  những thứ tầm thường như… lông mũi được.
Cô vợ đã xấu xí về hình thức lại không nết na trong hành vi, nếp sống. Hai câu ca dao tiếp theo giễu cợt sự vô ý vô tứ của cô ta trong giấc ngủ và thái độ bênh vực đến mức buồn cười của anh chồng:
Đêm nằm thì ngáy o o,
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.
        Chúng ta thử tưởng tượng: giữa đêm khuya thanh vắng, cả gia đình nhà chồng đang chìm trong giấc ngủ, bỗng rộ lên những tiếng ngáy o o của cô vợ làm cho mọi người tỉnh dậy. Chắc chắn là ai cũng sẽ thấy khó chịu và anh chồng tất nhiên là xấu hổ. Nếu chỉ có hai vợ chồng, thì anh chồng cũng phải bực mình hoặc cười ra nước mắt. Thực tế cho thấy nhiều cặp vợ chồng chia tay nhau chi vì lý do vô ý của vợ hoặc chồng. Thế nhưng với anh chồng yêu vợ quá đỗi này thì chuyện đó không đáng kể. Tiếng ngáy ầm ĩ, vô tư của cô vợ đã được anh ta giải thích một cách xuê xoa và tếu táo là ngáy cho vui nhà. Anh chồng không góp ý, khuyên  nhủ để vợ mình thay đổi tật xấu mà còn cố tình bao biện, khỏa lấp.
      Cô vợ không chi bộc lộ tật xấu ở nhà mà còn có thói quen xấu khi ra ngoài xã hội:
Đi chợ thì hay ăn quà,
Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm.
     Xưa nay, đi chợ ăn quà bị coi là một thói xấu đáng chê trách. Bởi vì nó xa lạ với phẩm chất chịu thương chịu khó, nhường nhịn miếng ngon miếng lành cho chồng cho con của người phụ nữ. Cô vợ trong bài ca dao này chỉ biết hưởng thụ, thỏa mãn ham muốn vật chất riêng của mình. Hay ăn quà nghĩa là cô ta ăn một cách thường xuyên, đi chợ lần nào cũng ăn. Các tác giả dân gian chi cần điểm một thói quen  Đi chợ thì hay ăn quà là đã khắc sâu được hình ảnh xấu của cô ta. Tuy thế, cô ta vẫn được chồng che chở, bênh vực bằng lí lẽ ngụy biện là về nhà đỡ cơm. Nhất vợ nhì trời, nhưng bênh vợ chằm chặp như anh chồng trong bài ca dao này thì đúng là có một không hai.
Cô vợ đoảng đến mức không chăm lo cho gia đình mà cũng không biết cách tự chăm sóc bản thân:
Trên đầu những rạ cùng rơm,
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu.
       Cô ta không hiểu rằng muốn giữ được hạnh phúc gia đình thì trước hết phải giữ gìn vẻ đẹp của mình, không nên sống buông thả, lôi thôi luộm thuộm, tự làm xấu đi hình ảnh bản thân và tỏ ra coi thường những người xung quanh. Cái răng, cái tóc là góc con người, thế mà cô ta để Trên đầu những rạ cùng rơm. Vì thế, cô ta trở thành lập dị. Duy chỉ có anh chồng mụ mị như bị ma ám, như bị bỏ bùa thì vẫn nắc nỏm khen lấy khen để là hoa thơm, rắc đầu.
     Có thể là ông trời đã ban phát cho cặp vợ chồng kì lạ này một điểu gì đó khác thường khiến họ hòa hợp với nhau đến thế. Điệp ngữ Chồng yêu chồng bảo… lặp đi lặp lại nhiều lần trong bài ca dao đã giải thích điểu mà dân gian thường hay nói tới là: Yêu nhau trăm sự chẳng nề, Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng…Hoặc: Yêu nhau củ ấu cũng tròn, Ghét nhau thì quả bồ hòn cũng vuông…
     Chỉ có tám câu ca dao với thủ pháp trào lộng thông minh, dí dỏm, với những chi tiết hí họa đặc sắc kết hợp khéo léo với nghệ thuật cường điệu, ngoa dụ, tăng tiến, trùng điệp,… bài ca dao đã tạo ra tiếng cười vui tươi, sảng khoái. Thái độ của mọi người đối với cô vợ là thái độ châm biếm, phê phán nhưng không ghét bỏ.Còn đối với anh chồng lạ đời kia thì chỉ cảnh tỉnh bằng nụ cười chân thành, độ lượng. Bài ca dao thể hiện tâm hồn lạc quan yêu đời và triết lí nhân sinh lành mạnh của người bình dân, cho dù cuộc sống của họ còn nhiều lo toan, vất vả. Ông cha ta có câu: Thương cho roi cho vọt, Ghét cho ngọt cho bùi. Dù sao thì bài ca dao trên cũng là lời nhắc nhở chúng ta hãy nhận thức rõ ràng về cái xấu, cái tốt để vươn tới sự hoàn thiện, hoàn mĩ trong cuộc sống.

3. Đọc thêm bài ca dao Mười cái trứng.

Tháng Giêng, tháng Hai, tháng Ba, tháng Bốn,
Tháng khốn
Tháng nạn.
Đi vay đi tạm
Được một quan tiền
Ra chợ Kẻ Diên
Mua con gà mái
Hắn đẻ ra mười cái trứng:
Một trứng - ung
Hai trứng - ung
Ba trứng - ung
Bốn trứng - ung
Năm trứng - ung
Sáu trứng - ung
Bảy trứng - ung
Còn ba cái trứng
Nở ra ba con:
Con - diều tha
Con - quạ bắt
Con - mắt cắt lôi.
Chớ than phận khó ai ơi
Còn da lông mọc còn chồi nảy cây.
     Khác biệt với những bài ca dao khác, tràn ngập nhịp điệu từ những câu lục bát, những vần bằng trắc đăng đối xen kẽ, bài ca dao Mười cái trứng tưởng như chỉ là tiếng đếm thứ tự của các số tự nhiên:
Tháng Giêng, tháng Hai, tháng Ba, tháng Bốn,
Tháng khốn
Tháng nạn.
     Từng tháng qua đi trong cuộc sống của người nông dân mà chưa hề nhìn thấy một cơ may có cuộc sống đỡ vất vả hơn, cũng là từng tháng họ suy tính để cải thiện cuộc sống của mình.
Đi vay đi tạm
Được một quan tiền
Ra chợ Kẻ Diên
Mua con gà mái
Hắn đẻ ra mười cái trứng:
     Mười cái trứng chính là thành quả đầu tiên cho sự suy tính của họ, nó mở ra một tương lai sáng sủa hơn, dù rất đỗi bình dị. Rồi đây mười cái trứng (chứ không phải mười quả trứng mang ý nghĩa là thương phẩm ,bán trực tiếp lấy tiền), có nghĩa là trứng có thể nở ra, sinh sôi và nhân lên, sẽ thành mười con gà hoặc chí ít cũng dăm bảy con, có thể chăm chút để chúng thành đàn gà nhỏ,chúng lại đẻ trứng và sẽ nhân lên thành đàn gà đông hơn, có thể trả nợ tiền, và sinh lời. Nhưng mười cái trứng đó:
Một trứng - ung
Hai trứng - ung
Ba trứng - ung
Bốn trứng - ung
Năm trứng - ung
Sáu trứng - ung
Bảy trứng - ung.
     Lại là tiếng đếm nhát một, mỗi tiếng đếm, mỗi quả trứng bị hỏng làm nhạt nhòa dần cái tương lai của người nông dân đang mong chờ. Và hi vọng của họ lại lóe lên khi:
Còn ba cái trứng nở ra ba con
Có nghĩa là còn hi vọng có một đàn gà nho nhỏ, chúng vẫn sẽ lớn lên và lại đẻ trứng. Thế mà :
Con- diều tha
Con- quạ bắt
Con- mắt cắt lôi.
      Tuy không có số đếm nhưng ta cũng hiểu người nông dân đếm từng con gà nhỏ bị mất khỏi tay mình, cũng là sự suy tính cho cuộc sống đã bị vùi dập hết lần này đến lần khác, hết khó khăn này đến khó khăn khác, hết kẻ thù này đến kẻ thù khác. Lúc này, tưởng chừng như sự thất vọng sẽ tràn ngập, tưởng chừng như họ mất tất cả, vậy mà:
Chớ than phận khó ai ơi
Còn da lông mọc còn chồi nảy cây.
      Câu lục - bát duy nhất trong bài, cũng là câu duy nhất có vần điệu kết thúc bài đếm số trứng. Không phải là tiếng kêu ai oán, than trách số phận hẩm hiu, rủi ro của mình, mà là tiếng hát tự động viên mình, dù rằng đối tượng là ai ơiNếu làm phép tính trừ, ta đều thấy, mười trứng trừ đi bảy trứng, còn ba trứng nở ra ba con, bị bắt cả ba thì hết cả mười trứng. Vậy mà người nông dân vẫn tự an ủi động viên được mình là vẫn còn tương lai? À, thì ra vẫn còn, còn một cô gà mái mua từ chợ kẻ Diên đấy thôi, và còn nữa, họ vẫn còn hi vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn, rằng còn sức lao động, còn cơ hội, còn tâm huyết thì vẫn còn có thể cải thiện cuộc sống của mình, cho dù mọi thứ đã mất đi.
        Vậy đấy, tinh thần người Việt Nam từ ngàn xưa đã lạc quan và giàu lòng tin tưởng. Tinh thần đó, bản lĩnh đó, niềm tin đó đã trở thành một đức tính bền bỉ, quật cường trước khó khăn của bao thế hệ người dân Việt.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây