Xem bóng đá trực tuyến
Bán tài liệu, giáo án tất cả các môn toán, lý,hoá,sinh,văn,sử,địa,tiếng anh, công dân,

Ngữ văn 10 Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 1, Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 2

Thứ hai - 01/02/2021 11:16
De kiểm tra 1 tiết Văn 10 học kì 2, De kiểm tra 1 Tiết Ngữ văn 10 học kì 2, Kiểm tra 15 phút Ngữ văn 10 học kì 2, De kiểm tra 1 tiết Ngữ văn 10 học kì 1, De đọc hiểu Ngữ văn 10 học kì 1, Kiểm tra 1 tiết văn 10 HK1Văn 10 có đáp an, Đáp án đề thi học kì 2 lớp 10.

De kiểm tra 1 tiết Văn 10 học kì 2, De kiểm tra 1 Tiết Ngữ văn 10 học kì 2, Kiểm tra 15 phút Ngữ văn 10 học kì 2, De kiểm tra 1 tiết Ngữ văn 10 học kì 1, De đọc hiểu Ngữ văn 10 học kì 1, Kiểm tra 1 tiết văn 10 HK1, De thi giữa học kì 1 lớp 10 môn Văn có đáp án, De thi Ngữ văn lớp 10 học kì 1 năm 2018De kiểm tra 1 tiết Văn 10 học kì 2, De kiểm tra 1 Tiết Ngữ văn 10 học kì 2, De kiểm tra 1 tiết văn 10 học kì 1, Kiểm tra 15 phút Ngữ văn 10 học kì 2, Kiểm tra 1 tiết văn 10 HK1, Đề kiểm tra học kì 2 môn Văn 10 có đáp an, Đáp án đề thi học kì 2 lớp 10 môn Ngữ văn năm 2018 2019 trường THPT Hoằng Hóa 3 Thanh Hóa, De đọc hiểu Ngữ văn 10 học kì 1 
 

 Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 1                                        

Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 1 (Đề 1)

Đề kiểm tra Ngữ Văn 10 - Học kì 1
Thời gian làm bài: 45 phút


Phần I. Đọc hiểu (5 điểm)
Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi:
   Chẳng ai muốn làm hành khất,
   Tội trời đày ở nhân gian.
   Con không được cười giễu họ,
   Dù họ hôi hám úa tàn.
   Nhà mình sát đường, họ đến,
   Có cho thì có là bao.
   Con không bao giờ được hỏi,
   Quê hương họ ở nơi nào.
   (...)
   Mình tạm gọi là no ấm,
   Ai biết cơ trời vần xoay,
   Lòng tốt gửi vào thiên hạ,
   Biết đâu nuôi bố sau này.
   (Trần Nhuận Minh, Dặn con, Nhà thơ và hoa cỏ, NXB Văn học, 1993)

Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích?
Câu 2: Hãy nêu nội dung chính của đoạn trích trên?
Câu 3: Hãy tìm trong vốn từ tiếng Việt từ đồng nghĩa với từ hành khất? Theo em, vì sao tác giả dùng từ hành khất thay vì các từ đồng nghĩa khác?
Câu 4: Từ đoạn trích trên, anh/chị hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề cho và nhận ở đời (cho đi và nhận lại).

Phần II. Làm văn (5 điểm)
Cảm nghĩ về những ngày đầu tiên bước vào trường trung học phổ thông.





Đáp án và thang điểm
Phần I. Đọc hiểu (5,0 điểm):
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm.
Câu 2: Nội dung chính của đoạn trích: Lời dặn của người cha với con:
- Lời dặn thể hiện tinh thần nhân văn: thương yêu, giúp đỡ con người, tôn trọng con người.
- Lời dặn đầy sự chiêm nghiệm sâu sắc về lẽ đời như: cơ trời vần xoay, lòng tốt, cho và nhận... khiến con người phải suy nghĩ về cách sống.
Câu 3:
- Từ đồng nghĩa với từ hành khất: ăn xin, ăn mày.
- Tác giả dùng từ hành khất vì:
   + Tác dụng phối thanh.
   + Hành khất là từ Hán Việt có sắc thái trang trọng, khác với sắc thái trung tính của các từ thuần Việt ăn xin, ăn mày, do đó phù hợp với cảm xúc của nhân vật trữ tình trong lời dặn con (phải tôn trọng, giữ thể diện cho những người hành khất).
Câu 4: Triển khai vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp:
* Giới thiệu vấn đề nghị luận.
- Từ nội dung đoạn thơ: Lời dặn con của người cha phải biết giúp đỡ và tôn trọng những người hành khất. Giúp người, đến khi gặp hoạn nạn, người khác sẽ giúp mình.
- Nêu vấn đề: cho và nhận ở đời.
* Phân tích vấn đề:
- Giải thích:
   + Cho là cho đi (vật chất, tinh thần, kinh nghiệm, …).
   + Nhận là nhận về niềm vui, sự thanh thản và kể cả vật chất.
* Phân tích biểu hiện:
- Cuộc sống còn rất nhiều mảnh đời khốn khổ, cần sự giúp đỡ của cộng đồng.
- Khi giúp đỡ người khác, con người cảm nhận được niềm vui, hạnh phúc. Và khi lỡ sa chân vào khốn khó, có thể sẽ nhận được sự sẻ chia từ cộng đồng.
* Bình luận:
- Cho và nhận làm cho cuộc sống có ý nghĩa, nó cũng là quy luật của cuộc sống, giúp cho xã hội nhân văn và phát triển hơn, đáng được ca ngợi.
- Nhưng cuộc sống cũng còn lắm kẻ chỉ biết nhận mà không biết cho, hoặc cho đi và đòi phải nhận lại. Điều ấy cần phải phê phán.
* Kết luận:
Cuộc đời sẽ giàu ý nghĩa khi ta biết cho và nhận.

Phần II: Làm văn (5đ)
Dàn ý
1. Mở bài:
Nêu cảm nghĩ chung về sự hồi hộp, niềm vui và hạnh phúc khi được trở thành một học sinh THPT.

2. Thân bài:
- Cảm nghĩ trước khi nhập học:
    + Nhớ lại lần đầu tới trường, hay những lần khai giảng năm học trước
    + Bước vào trường THPT có gì khác biệt: hồi hộp, tự hào(bản thân trải qua kì thi đầy thử thách, thấy mình đã lớn và trưởng thành hơn).
- Cảm nghĩ khi mới đặt chân đến trường:
    + Miêu tả khái quát khung cảnh trường (mới lạ, rộng rãi, sạch đẹp, có nhiều bồn hoa, cây cảnh đẹp…).
    + Gặp gỡ, làm quen với thầy cô và các bạn mới (thầy cô, bạn bè đều là những người chưa quen ; cảm giác ban đầu xa lạ nhưng lại như có một sợi dây gắn kết vô hình, tạo sự gần gũi).
    + Phân chia lớp, phòng học và các bạn mới
- Cảm nghĩ về buổi chào cờ đầu tiên:
    + Lời thầy Hiệu trưởng (dõng dạc, nghiêm trang, đầy giục giã).
    + Lời phát biểu cảm nghĩ của một học sinh mới (gây ra niềm đồng cảm, xúc động ra sao?).
- Cảm nghĩ về buổi học đầu tiên:
    + Mới đầu còn đôi chút lạ lẫm, ngượng ngùng
    + Về sau, cả lớp hào hứng hòa nhập nhanh chóng
    + Buổi học qua nhanh nhưng để lại nhiều ấn tượng.
(chú ý miêu tả tiết học môn gì, thầy/cô giáo và bài giảng có sự hấp dẫn lôi cuốn như thế nào?)

3. Kết bài:
- Cảm giác vui vẻ, có chút gì đó khó tả.
- Trong lòng có sự tin tưởng sẽ sớm gần gũi, hòa nhập với việc học tập và tham gia phong trào của lớp, gắn bó với các bạn và môi trường học tập mới.

 

 Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 1   

Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 1 (Đề 2)

Đề kiểm tra Ngữ Văn 10 - Học kì 1
Thời gian làm bài: 45 phút

Phần I. Đọc hiểu (3 điểm)
Đọc văn bản sau đây và trả lời các câu hỏi:
                                                      Vị vua và những bông hoa

Một ông vua nọ rất có tài chăm sóc những cây hoa và ông đang muốn tìm một người kế vị mình. Ông quyết định để những bông hoa quyết định, vì thế ông đưa cho tất cả mọi người mỗi người một hạt giống. Người nào trồng được những bông hoa đẹp nhất từ hạt giống này sẽ được lên ngôi.
Một cô gái tên là Serena cũng muốn tham gia vào cuộc cạnh tranh để trồng được bông hoa đẹp nhất. Cô gieo hạt giống trong một cái chậu rất đẹp, chăm sóc nó rất kỹ càng, nhưng đợi mãi mà chẳng thấy hạt giống nảy mầm.
Năm sau, cô thấy mọi người tụ tập tại cung điện với những chậu hoa rất đẹp. Serena rất thất vọng, nhưng vẫn tới cuộc tụ họp với chậu hoa trống rỗng. Nhà vua kiểm tra tất cả chậu hoa, rồi dừng lại ở chậu hoa của Serena.
Ngài hỏi : “tại sao chậu hoa của cô không có gì?”
Serena thành thật trả lời: “Thưa điện hạ, tôi đã làm mọi thứ để nó lớn lên nhưng tôi đã thất bại”
Nhà vua liền trả lời: “Không, cô không thất bại. Những hạt giống mà ta đưa cho mọi người đều đã được nướng chín, vì thế chúng không thể nảy mầm. Ta không biết tất cả những bông hoa đẹp này ở đâu ra. Cô đã rất trung thực, vì thế cô xứng đáng có được vương miện. Cô sẽ là nữ hoàng của vương quốc này”.
      (Dẫn theo “Quà tặng cuộc sống”)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên?
Câu 2: Nêu nội dung chính của văn bản trên?
Câu 3: Hãy giải thích vì sao cô Serena lại được nhà vua phong làm nữ hoàng?

Phần II. Làm văn (7 điểm)
Sau khi tự tử ở giếng Loa Thành, xuống thủy cung, Trọng Thủy đã tìm gặp lại Mị Châu. Hãy tưởng tượng và kể lại phần kết câu chuyện.




Đáp án và thang điểm
Phần I: Đọc hiểu (3đ)
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính là tự sự.
Câu 2: Nội dung chính của văn bản trên:
Kể về việc một vị vua muốn lựa chọn người kế vị bằng cách thử lòng trung thực của mọi người từ những hạt giống hoa đã được nướng chín. Có duy nhất cô gái tên Serena là người chiến thắng nhờ lòng trung thực của mình . Thông qua câu chuyện để khẳng định tính trung thực sẽ đem lại cho chúng ta những món quà bất ngờ.
Câu 3: Cô Serena được nhà vua phong làm nữ hoàng vì cô đã rất trung thực ki trồng đúng hạt giống hoa mà nhà vua ban. Cô không tìm mọi cách để có chậu hoa đẹp như người khác mà chỉ chăm sóc hạt giống nhà vua đã ban.

Phần II: Làm văn (7đ)
Dàn ý:
1. Mở bài
- Sau khi an táng cho vợ, Trọng Thuỷ ngày đêm buồn rầu khổ não.
- Một hôm đang tắm, Trọng Thuỷ nhìn thấy bóng Mị Châu ở dưới nước bèn nhảy xuống giếng ôm nàng mà chết.

2. Thân bài
- Trọng Thuỷ lạc xuống Thuỷ cung.
   + Vì trong lòng luôn ôm nỗi nhớ Mị Châu nên sau khi chết, linh hồn Trọng Thuỷ tự tìm đến thuỷ cung.
   + Miêu tả cảnh cảnh ở dưới thuỷ cung (cung điện nguy nga lộng lẫy, người hầu đi lại rất dông…).
- Trọng Thuỷ gặp lại Mị Châu.
   + Đang ngơ ngác thì Trọng Thuỷ bị quân lính bắt vào đại điện.
   + Trọng Thuỷ được đưa đến quỳ trước mặt một người mà lính hầu gọi là công chúa.
   + Sau một hồi lục vấn, Trọng Thuỷ kể rõ mọi sự tình. Lúc ấy Mị Châu cũng rưng rưng nước mắt.
- Mị Châu kể lại chuyện mình và trách Trọng Thuỷ.
   + Mị Châu chết, được vua Thuỷ Tề nhận làm con nuôi.
   + Mị châu cứng rắn nặng lời phê phán oán trách Trọng Thuỷ: Trách chàng là người phản bội; Trách chàng gieo bao đớn đau cho hai cha con nàng và đất nước.
   + Mị Châu nhất quyết cự tuyệt Trọng Thuỷ rồi cả cung điện tự nhiên biến mất.
- TrọngThuỷ còn lại một mình: Buồn rầu, khổ não, Trọng Thuỷ mong ước nước biển ngàn năm sẽ xoá sạch lầm lỗi của mình.

3. Kết bài
Trọng Thuỷ hoá thành một bức tượng đá vĩnh viễn nằm lại dưới đáy đại dương.
* Lưu ý: Người viết có thể vẫn dựa vào dàn ý nêu trên nhưng có thể chọn nội dung câu chuyện khác, ví dụ:
   + Trọng Thuỷ và Mị Châu gặp gỡ nhau. Hai người tỏ ra ân hận. Nhưng rồi họ quyết định từ bỏ mọi chuyện ở dương gian để sống cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nơi đáy nước.
   + Mị Châu gặp Trọng Thuỷ. Nàng phân rõ lí tình về những chuyện lúc hai người còn sống. Hiểu lời vợ, Trọng Thuỷ tỏ ra ân hận, nhận tất cả lầm lỗi về mình. Hai người hứa hẹn sẽ làm những điều tốt đẹp để bù đắp những lầm lỗi trước đây.


 

 Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 1 

Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 1 (Đề 3)

Đề kiểm tra Ngữ Văn 10 - Học kì 1
Thời gian làm bài: 45 phút

Phần I. Đọc hiểu (5 điểm)
Đọc bài thơ sau của Nguyễn Khoa Điềm và trả lời các câu hỏi :
                  MẸ VÀ QUẢ

   Những mùa quả mẹ tôi hái được
   Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
   Những mùa quả lặn rồi lại mọc
   Như mặt trời, khi như mặt trăng
   Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
   Còn những bí và bầu thì lớn xuống
   Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
   Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.
   Và chúng tôi, một thứ quả trên đời
   Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái
   Tôi hoảng sợ, ngày bàn tay mẹ mỏi
   Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.
      (Thơ Việt Nam 1945 - 1985, NXB Văn học, Hà Nội, 1985)

Câu 1: Nêu chủ đề của bài thơ?
Câu 2: Tìm phép điệp trong khổ thơ đầu và phép đối trong khổ thơ thứ hai.
Câu 3: Trong nhan đề và bài thơ, chữ “quả” xuất hiện nhiều lần. Chữ “quả” ở dòng nào mang ý nghĩa tả thực? Chữ “quả” ở dòng nào mang ý nghĩa biểu tượng?
Câu 4: Nghĩa của cụm từ in đậm trong hai dòng cuối của bài thơ “Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi - Mình vẫn còn một thứ quả non xanh”.
Câu 5: Viết một đoạn văn (khoảng 15 đến 20 dòng), trình bày suy nghĩ của Anh/ chị về tình mẫu tử.

Phần II. Làm văn (5 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão.



Đáp án và thang điểm
Phần I: Đọc hiểu (5.0 điểm)
Câu 1: Chủ đề của bài thơ là sự nhận thức của người con về công ơn của mẹ.
Câu 2:
* Phép điệp: Những mùa quả.
* Phép đối: Lũ chúng tôi lớn lên – Bí và bầu lớn xuống.
Câu 3:
* Chữ “quả” mang ý nghĩa tả thực: dòng 1 và dòng 3 của khổ đầu.
* Chữ “quả” mang ý nghĩa biểu tượng: dòng 1 và dòng 4 của khổ cuối.
Câu 4: Nghĩa của cụm từ quả non xanh: Chưa đến độ chín, chưa trưởng thành; chưa làm được những điều xứng đáng với sự mong đợi của mẹ, chưa trở thành người tốt,...
Câu 5: Đoạn văn cần đáp ứng yêu cầu cả về hình thức và nội dung. Cụ thể nêu được những ý sau:
- Vai trò to lớn của người mẹ đối với con:
+ Có công sinh thành, nuôi dưỡng chăm sóc, dạy dỗ con cái nên người.
+ Luôn bao bọc, chở che, hi sinh tất cả vì con.
- Phê phán những người mẹ sống thiếu trách nhiệm, thương con một cách mù quáng.
- Trách nhiệm làm con: Phải biết vâng lời mẹ, chăm sóc mẹ khi ốm đau, làm những điều tốt để mẹ vui lòng,…

Phần II: Làm văn (5đ)
MB
- Giới thiệu tác giả Phạm Ngũ Lão; giới thiệu tác phẩm: Tỏ lòng (Thuật hoài).
- Nêu vấn đề nghị luận: Bài thơ Tỏ lòng.

TB
- Sơ lược về nhà Trần
   + Trong các triều đại phong kiến nhà Trần là triều đại để lại nhiều dấu ấn lịch sử đáng ghi nhớ nhất.
   + Thời đại ấy hun đúc nên những con người vĩ đại và trở lại, con người lại làm vẻ vang cho thời đại sản sinh ra mình.
- Nội dung:
+ Vẻ đẹp con người:
• Hình tượng con người kì vĩ (Hai câu đầu).
• Vẻ đẹp tư tưởng nhân cách (Hai câu sau).
+ Vẻ đẹp thời đại (HS có thể trình bày lồng vào vẻ đẹp con người)
• Chân dung thời đại được phản ánh qua hình tượng con người trung tâm.
• Hình ảnh con người trầm tư suy nghĩ về ý chí lí tưởng, hoài bão của mình là sự khúc xạ tuyệt đẹp của chân dung thời đại.
- Nghệ thuật:
   + Thể thơ thất ngôn tư tuyệt Đường luật ngắn gọn, đạt tới độ súc tích cao.
   + Từ ngữ hình ảnh to lớn để miêu tả tầm vóc của con người thời đại nhà Trần.

KB: Nhận xét đánh giá: Con người và thời đại nhà Trần (Thời đại Đông A) thật gần gũi, đẹp đẽ.


 

 Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 1 

Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 1 (Đề 4)

Đề kiểm tra Ngữ Văn 10 - Học kì 1
Thời gian làm bài: 45 phút

Phần I. Đọc hiểu (3 điểm)
Đọc đoạn văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
"8/3/69
Đi thăm bệnh nhân về giữa đêm khuya. Trở về phòng, nằm thao thức không ngủ được. Rừng khuya im lặng như tờ, không một tiếng chim kêu, không một tiếng lá rụng hoặc một ngọn gió nào đó khẽ rung cành cây. Nghĩ gì đấy Th. ơi?. Nghĩ gì mà đôi mắt đăm đăm nhìn qua bóng đêm. Qua ánh trăng mờ Th. thấy biết bao là viễn cảnh tươi đẹp, cả những cận cảnh êm đềm của những ngày sống giữa tình thương trên mảnh đất Đức Phổ này. Rồi cảnh chia li, cảnh đau buồn cũng đến nữa ... Đáng trách quá Th. ơi! Th. có nghe tiếng người thương binh khẽ rên và tiếng súng vẫn nổ nơi xa. Chiến trường vẫn mùa chiến thắng."
(Nhật kí Đặng Thùy Trâm, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2005)

Câu 1: Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản trên?
Câu 2: Văn bản trên tồn tại dưới dạng nào?
Câu 3: Chỉ ra dấu hiệu của phong cách ngôn ngữ đó trong văn bản trên?

Phần II. Làm văn (7 điểm)
Câu 1: Viết bài văn khoảng một trang giấy thi trình bày suy nghĩ của em về hiện tượng xả rác bừa bãi ở nơi công cộng hiện nay?
Câu 2: Phân tích bài thơ “Cảnh ngày hè ” của Nguyễn Trãi.





Đáp án và thang điểm
Phần I: Đọc hiểu (3đ)
Câu 1: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt.
Câu 2: Dạng viết: Nhật kí.
Câu 3: Dấu hiệu của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt:
- Tính cụ thể:
   + Con người: Th – nhân vật phân thân đối thoại.
   + Thời gian: Đêm khuya.
   + Không gian: Rừng núi.
- Tính cảm xúc: Thể hiện ở giọng điệu thân mật, câu nghi vấn, câu cảm thán, những từ ngữ: Viễn cảnh, cận cảnh, cảnh chia li, cảnh đau buồn được viết theo dòng tâm tư.
- Tính cá thể: Nét cá thể trong ngôn ngữ của nhật kí là ngôn ngữ của một người giàu cảm xúc, có đời sống nội tâm phong phú ("...nằm thao thức không ngủ được", "Nghĩ gì đấy Th. ơi?", "Th. thấy...", "Đáng trách quá Th.ơi!", "Th. có nghe...?")

Phần II: Làm văn (7đ)
Câu 1:
Mở bài Giới thiệu vấn đề nghị luận.
Thân bài:
a/ Giải thích đề bài: Xả rác bừa bãi là hiện tượng xả rác không đúng nơi quy định, không vứt rác vào thùng mà bỏ lung tung, thậm chí vứt ngay xuống đường phố.

b/ Thực trạng.
• Một người ngang nhiên vứt rác bừa bãi ra đường.
• Rác bay từ trên gác xuống đường bất chấp ai ở bên dưới.
• Vứt rác xuống hồ.
• Những nơi nhiều khách tham quan du lịch rác ở khắp nơi...

c/ Nguyên nhân
- Chủ quan
• Do thói quen đã có từ lâu đời.
• Do thiếu hiểu biết.
• Do thiếu ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường, ích kỉ, lười nhác, thiếu lòng tự tôn dân tộc, thiếu một tấm lòng...
- Khách quan
• Do đất nước còn nghèo nàn, lạc hậu – giờ thu gom rác không đáp ứng được với tất cả người dân.
• Không có chế tài xử phạt nghiêm khắc.

d/ Hậu quả.
• Tạo ra một thói quen xấu trong đời sống văn minh hiện đại.
• Gây ô nhiễm môi trường.
• Bệnh tật phát sinh bạc...
• Ảnh hưởng đến cảnh quan, thẩm mĩ, mất đi vẻ xanh - sạch - đẹp vốn có.
• Ngành du lịch gặp khó khăn, hình ảnh dân tộc, đất nước bị giảm đi ấn tượng tốt đẹp.
e/ Bài học: Nêu được bài học cho riêng mình.
Kết bài: Suy nghĩ về vấn đề cần nghị luận.

Câu 2:
- Giới thiệu vài nét về tác giả và tác phẩm (có thể tích hợp trong phần mở bài)
- Vẻ đẹp rực rỡ của bức tranh thiên nhiên
   + Mọi hình ảnh đều sống động: hoè lục đùn đùn, rợp mát như giương ô che rợp; thạch lựu phun trào sắc đỏ, sen hồng đang độ ngát mùi hương.
   + Mọi màu sắc đều đậm đà: hoè lục, lựu đỏ, sen hồng.
- Vẻ đẹp thanh bình của bức tranh đời sống con người: nơi chợ cá dân dã thì "lao xao", tấp nập; chốn lầu gác thì "dắng dỏi" tiếng ve như một bản đàn.
Cả thiên nhiên và cuộc sống con người đều tràn đầy sức sống. Điều đó cho thấy một tâm hồn khao khát cuộc sống, yêu đời mãnh liệt và tinh tế, giàu chất nghệ sĩ của tác giả.
- Niềm khát khao cao đẹp
   + Đắm mình trong cảnh ngày hè, nhà thơ ước có cây đàn của vua Thuấn, gảy khúc Nam phong cầu mưa thuận gió hòa để "Dân giàu đủ khắp đòi phương".
   + Lấy Nghiêu, Thuấn làm "gương báu răn mình", Nguyễn Trãi đã bộc lộ chí hướng cao cả: luôn khao khát đem tài trí để thực hiện tư tưởng nhân nghĩa yêu nước thương dân.
Nghệ thuật
- Hệ thống ngôn từ giản dị, tinh tế xen lẫn từ Hán và điển tích.
- Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn.
Sử dụng từ láy độc đáo: đùn đùn, lao xao, dắng dỏi,...
Đánh giá chung
Tư tưởng lớn xuyên suốt sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Trãi - tư tưởng nhân nghĩa yêu nước thương dân - được thể hiện qua những rung động trữ tình dạt dào trước cảnh thiên nhiên ngày hè .


 

Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 2 

Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 2 (Đề 1)

Đề kiểm tra Ngữ Văn 10 - Học kì 2
Thời gian làm bài: 15 phút

Phần I. Đọc hiểu (4 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Cuộc sống riêng không biết đến điều gì xảy ra ngoài ngưỡng cửa nhà mình là một cuộc sống nghèo nàn, dù nó có đầy đủ tiện nghi đến đâu đi nữa. nó giống như một mảnh vườn được chăm sóc cẩn thận, đầy hoa thơm sạch sẽ và gọn gàng. Mảnh vườn này có thể làm chủ nhân của nó êm ấm một thời gian dài, nhất là khi lớp rào bao quanh không còn làm họ vướng mắt nữa. Nhưng hễ có một cơn dông tố nổi lên là cây cối sẽ bị bật khỏi đất, hoa sẽ nát và mảnh vườn sẽ xấu xí hơn bất kì một nơi hoang dại nào. Con người không thể hạnh phúc với một hạnh phúc mong manh như thế. Con người cần một đại dương mênh mông bị bão táp làm nổi sóng nhưng rồi lại phẳng lì và trong sáng như trước. Số phận cảu những cái tuyệt đối cá nhân không bộc lộ ra khỏi bản thân, chẳng có gì đáng thèm muốn.
    (Theo A.L.Ghec-xen, 3555 câu danh ngôn,
    NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1997)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.
Câu 2: Nêu nội dung chính của văn bản trên.
Câu 3: Chỉ ra tác dụng của việc dùng phép so sánh trong văn bản trên.
Câu 4: Theo quan điểm riêng của anh/ chị, cuộc sống riêng không biết đến điều gì xảy ra ở bên ngoài ngưỡng cửa nhà mình gây ra những tác hại gì? (Trả lời ít nhất 2 tác hại trong khoảng 5-7 dòng)

Phần II. Làm văn (6 điểm)
Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh của đất nước quê hương.




Đáp án và thang điểm
Phần I: Đọc hiểu
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản: phương thức nghị luận/Nghị luận.
Câu 2. Nội dung chính của văn bản trên: khẳng định cuộc sống riêng không biết đến điều gì xảy ra ở bên ngoài ngưỡng cửa nhà mình là một cuộc sống sai lầm/bác bỏ một quan niệm sống sai lầm: sống bó hẹp trong ngưỡng cửa nhà mình.
Câu 3.
– Tác giả đã so sánh cuộc sống của mỗi người (cuộc sống đầy đủ tiện nghi; cuộc sống biệt lập;cuộc sống lúc sóng gió; …) với một mảnh vườn (mảnh vườn được chăm sóc cẩn thận, đầy hoa thơm, sạch sẽ và gọn gàng; mảnh vườn có lớp rào bao quanh; mảnh vườn lúc dông tố nổi lên;…).
– Tác dụng: việc sử dụng pháp so sánh khiến đoạn văn trở nên sinh động, truyền cảm, dễ hiểu, có sức thuyết phục cao chứ không khô khan như khi chỉ sử dụng lí lẽ thuần túy.
Câu 4. Nêu ít nhất 02 tác hại của cuộc sống riêng không biết đến điều gì xảy ra ở bên ngoài ngưỡng cửa nhà mình theo quan điểm riêng của bản thân, không nhắc lại quan điểm của tác giả trong đoạn trích đã cho. Câu trả lời phải chặt chẽ, có sức thuyết phục.

Phần II: Làm văn
Dàn ý:
1. Mở bài : Giới thiệu về vị trí danh lam thắng cảnh (vịnh Hạ Long) đối với quê hương đất nước.
2. Thân bài :
- Vị trí địa lí :
    + Thuộc tỉnh Quảng Ninh, cách Hà Nội 151km về phía Đông Bắc.
    + Là một phần của vịnh Bắc Bộ gồm vùng biển thuộc thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và một phần huyện đảo Vân Đồn.
    + Tiếp giáp về các phía Đông, Tây, Nam, Bắc.
    + Diện tích : 1553km2, với gần 2000 hòn đảo lớn nhỏ.
- Nguồn gốc :
    + Tên gọi Hạ Long theo nghĩa Hán Việt nghĩa là rồng đáp xuống.
    + Xuất phát từ truyền thuyết : Khi người Việt mới lập nước đã bị nạn ngoại xâm, Ngọc Hoàng sai Rồng Mẹ mang theo một đàn Rồng Con xuống hạ giới giúp đỡ. Vị trí Rồng Mẹ đáp xuống gọi là Hạ Long, nơi Rồng Con đáp xuống là Bái Tử Long, chỗ đuôi đàn rồng quẫy nước trắng xóa là Bạch Long Vĩ.
- Đặc điểm – cấu tạo :
    + Có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch.
    + Trên đảo là hệ thống hang động phong phú với những nhũ đá có màu sắc đa dạng, huyền ảo. Một số hang mang dấu tích người tiền sử.
    + Vùng lõi có diện tích 434km2, như một tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía Tây), hồ Ba Hầm (phía Nam), đảo Cống Tây (phía Đông) với 775 đảo với nhiều hang động, bãi tắm. Vùng kế bên (vùng đệm) là di tích danh thắng quốc gia đã được Bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam xếp hạng từ năm 1962.
    + Địa hình Hạ Long là đảo, núi xen kẽ giữa các trũng biển, là vùng đất mặn có sú vẹt mọc và những đảo đá vôi vách đứng tạo nên những vẻ đẹp tương phản, hài hòa, sinh động giữa các yếu tố : đá, nước và bầu trời…
- Vai trò và ý nghĩa :
    + Vịnh Hạ Long hai lần được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 1994 và 2000.
    + Thu hút nhiều khách du lịch và các nhà đầu tư phát triển kinh tế, tăng nguồn thu cho đất nước.
    + Là nơi thích hợp nghiên cứu thạch nhũ, nghiên cứu hệ sinh thái, khảo cổ.

3. Kết bài : Vịnh Hạ Long là niềm tự hào của thiên nhiên, đất nước Việt Nam. Mỗi người dân Việt cần phát huy, giữ gìn nét văn hóa của danh lam thắng cảnh đất nước.


 

Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 2 

Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 2 (Đề 2)

Đề kiểm tra Ngữ Văn 10 - Học kì 2
Thời gian làm bài: 45 phút

Phần I. Đọc hiểu (3 điểm)
Đọc câu chuyện sau và trả lời các câu câu hỏi bên dưới:
Tôi vốn là một tảng đá khổng lồ trên núi cao, trải qua bao năm tháng dài đằng đẵng bị mặt trời nung đốt, người tôi đầy vết nứt. Tôi vỡ ra và lăn xuống núi, mưa bão và nước lũ cuốn tôi vào sông suối. Do liên tục bị va đập, lăn lộn, tôi bị thương đầy mình. Nhưng rồi chính những dòng nước lại làm lành những vết thương của tôi. Và tôi trở thành một hòn sỏi láng mịn như bây giờ.

Câu 1: Hãy nêu ngắn gọn nội dung câu chuyện?
Câu 2: Những từ ngữ “nung đốt”, “vết nứt”, “vỡ ra”, “va đập”, “lăn lộn”, “bị thương” cùng nhằm biểu đạt nội dung gì? Từ câu chuyện trên, anh/chị rút ra bài học gì về cuộc sống?

Phần II. Làm văn (7 điểm)
Thuyết minh về tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”.





Đáp án và thang điểm
Phần I. Đọc hiểu
Câu 1:
Câu chuyện kể về hành trình của hòn sỏi từ đảng đá khổng lồ, gồ ghề, nứt nẻ trải qua nhiều va đập trở thành hòn sỏi láng mịn.
Câu 2:
- Những từ ngữ “nung đốt”, “vết nứt”, “vỡ ra”, “va đập”, “lăn lộn”, “bị thương”, cùng nhằm biểu đạt những khó khăn thử thách, chông gai trên đường đời.
- Bài học về cuộc sống: Cuộc sống chẳng bao giờ chỉ mang đến hạnh phúc, cũng chẳng bao giờ chỉ mang đến nỗi đau. Vượt qua gian khổ, vượt qua những thử thách, vượt qua những nỗi đau cũng là tự vượt qua chính mình để vươn lên và sống có ích cho đời.

Phần II: Làm văn
1. Mở bài : Giới thiệu khái quát về tác phẩm (tác giả, thời gian, ý nghĩa chính)
2. Thân bài :
- Đôi nét về tác giả.
- Giới thiệu về Truyền kì mạn lục : ghi chép những chuyện lạ trong dân gian vào các thời Lí, Trần, Hồ, Lê sơ.
- Tóm tắt ngắn gọn truyện.
- Nội dung :
    + Vạch trần bộ mặt gian tà của không ít kẻ đương quyền hay dối lừa, tố cáo hiện thực. Tử Văn buột miệng “Sao mà nhiều thần quá vậy ?” cũng cho thấy một xã hội phong kiến quá nhiều kẻ hữu danh vô thực, lợi dụng địa vị làm điều bất chính.
    + Đề cao tinh thần khảng khái, cương trực, dám đấu tranh chống lại cái ác của Ngô Tử Văn.
    + Thể hiện niềm tin công lí của nhân dân.
- Nghệ thuật :
    + Yếu tố kì ảo.
    + Nghệ thuật kể chuyện lôi cuốn, nhân vật sắc nét, tình tiết và diễn biến truyện giàu kịch tính.

3. Kết bài : Nhận xét, đánh giá về giá trị, vị trí tác phẩm.


 

Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 2 

Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 2 (Đề 3)

Đề kiểm tra Ngữ Văn 10 - Học kì 2
Thời gian làm bài: 45 phút

Phần I. Đọc hiểu (5 điểm)
Đọc đoạn văn sau và thực hiện theo yêu cầu:
“Than ôi! Người ta thường nói:“Cứng quá thì gãy”. Kẻ sĩ chỉ lo không cứng cỏi được, còn gãy hay không là việc của trời. Sao lại đoán trước là sẽ gãy mà chịu đổi cứng ra mềm?
Ngô Tử Văn là một chàng áo vải. Vì cứng cỏi cho nên dám đốt cháy đền tà, chống lại yêu ma, làm một việc hơn cả thần và người. Bởi thế được nổi tiếng và được giữ chức vị ở Minh ti, thật là xứng đáng. Vậy kẻ sĩ, không nên kiêng sợ sự cứng cỏi.”
(Trích Chuyện Chức Phán sự đền Tản Viên, SGK Ngữ văn 10, trang 60, tập II, NXBGD 2006)

Câu 1: Nêu nội dung chính của văn bản.
Câu 2: Văn bản có nhắc đến hành động đốt cháy đền tà của Ngô Tử Văn, hãy nêu cụ thể những chi tiết liên quan đến ngôi đền này.
Câu 3: Qua văn bản, nhà văn Nguyễn Dữ tỏ thái độ, tình cảm như thế nào với nhân vật Ngô Tử Văn?
Câu 4: Câu văn nào trong văn bản có ý bác bỏ quan niệm “đổi cứng ra mềm” của những kẻ sĩ cơ hội, cầu an? Cách bác bỏ thuyết phục người đọc nhờ dựa trên cơ sở nào?
Câu 5: Sau khi đọc truyện có bạn học sinh cho rằng: “Trong thực tế, không nên sống “cứng cỏi” theo kiểu Ngô Tử Văn vì như vậy chỉ mang lại sự thiệt thòi cho bản thân.” Anh/ chị có đồng ý với ý kiến đó không? Hãy viết đoạn văn (khoảng 15-20 dòng) trình bày quan điểm của mình.

Phần II. Làm văn (5 điểm)
Phân tích đoạn thơ sau:
   [...] Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
   Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
   Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề.
   Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
   Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
   Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
   (Trao duyên trích Truyện Kiều, Nguyễn Du, Sách Ngữ văn lớp 10, tập 2)





Đáp án và thang điểm
Phần I: Đọc hiểu
Câu 1: Nội dung chính:
Lời răn về nhân cách của kẻ sĩ: phải sống cương trực, ngay thẳng, cứng cỏi.

Câu 2:
Những chi tiết liên quan đến ngôi đền:
- Ngôi đền vốn trước đây là đền thờ thổ công.
- Sau bị tên Bách hộ họ Thôi là bộ tướng của Mộc Thạnh tử trận gần đấy chiếm lấy, rồi làm yêu làm quái trong dân gian.

Câu 3:
Nhà văn Nguyễn Dữ tỏ thái độ, tình cảm: ca ngợi, khâm phục sự cứng cỏi và lòng can đảm của nhân vật Ngô Tử Văn.

Câu 4:
- Câu văn trong văn bản có ý bác bỏ quan niệm “đổi cứng ra mềm” của những kẻ sĩ cơ hội, cầu an: Vậy kẻ sĩ, không nên kiêng sợ sự cứng cỏi.
- Cách bác bỏ thuyết phục người đọc dựa trên cơ sở:
   + Lí lẽ: Than ôi! Người ta vẫn nói: “Cứng quá thì gãy”. Kẻ sĩ chỉ lo không cứng cỏi được, còn gãy hay không là việc của trời.
   + Dẫn chứng thực tế: hành động của Ngô Tử Văn được ngợi ca

Câu 5:
- Dẫn đề
- Đồng ý hoặc không đồng ý với ý kiến trên
- Đưa ra được quan điểm của cá nhân thông qua lí lẽ, dẫn chứng
- Rút ra bài học cho bản thân/chốt lại vấn đề
Lưu ý: Quan điểm cá nhân phải tích cực, dựa trên đạo đức văn hóa và lối sống của người Việt Nam.

Phần II : Làm văn
* MB: Giới thiệu tác giả Nguyễn Du, tác phẩm Truyện Kiều, đoạn trích Trao duyên trích (vị trí, tóm tắt đoạn trích). Trích thơ

* TB: Cần trình bày các ý sau:
1. Giới thiệu chung: vị trí đoạn trích, nội dung,...
2. Phân tích
HS có thể phân tích các ý sau:
- Hai câu thơ đầu: Lời nhờ cậy
   + Đây là lời nhờ cậy, tác giả đã đặt Thúy Kiều vào hoàn cảnh éo le để nàng tự bộc lộ tâm trạng, nhân cách của mình. Kiều buộc phải trao duyên, nàng làm như vậy là thực hiện một chuyện tế nhị, khó nói. (Phân tích rõ từ "cậy", từ "chịu" để thấy được Thúy Kiều hiểu hoàn cảnh của Thúy Vân, nàng ý thức được việc mình nói ra mang tính chất rất hệ trọng, việc nàng nhờ cậy có thể làm em lỡ cả đời)
   + Khung cảnh "em" – "ngồi", "chị" - "lạy", "thưa". Ở đây có sự đảo lộn ngôi vị của hai chị em trong gia đình, diễn tả việc nhờ cậy là vô cùng quan trọng, thiêng liêng, nghiêm túc.
Thúy Kiều là người khéo léo, thông minh, tế nhị, kín đáo, coi trọng tình nghĩa.
- 6 câu tiếp: Lời giãi bày nỗi lòng mình
   + Thúy Kiều nói về hoàn cảnh éo le của mình
   + Kiều nói vắn tắt về mối tình đẹp nhưng dang dở với Kim Trọng (điệp từ "khi" nhấn mạnh tình yêu sâu nặng, gắn bó bền chặt của Kim-Kiều.)
   + Nàng nhắc đến các biến cố đã xảy ra khiến Kiều không thể tiếp tục cuộc tình của mình.
   + Kiều xin em hãy "chắp mối tơ thừa" để trả nghĩa cho chàng Kim.
- Bốn câu tiếp: Lời thuyết phục.
   + Thúy Kiều thuyết phục em nhờ vào lí lẽ:
   + Nhờ vào tuổi xuân của em
   + Nhờ vào tình máu mủ chị em
   + Dù đến chết Kiều vẫn ghi ơn em, biết ơn sự hi sinh của em.
Đó là những lời nói, lí lẽ khéo léo, tinh tế làm tăng tính thuyết phục của lời nói, tạo tính chất lời nói thiết tha, kín kẽ, tế nhị. Giọng thơ khẩn khoản, cách ngắt nhịp thơ đem lại sắc thái trang trọng.
- Nghệ thuật:
   + Miêu tả tinh tế nội tâm nhân vật
   + Ngôn từ chọn lọc, sử dụng nhiều biện pháp tu từ.

* KB: Khẳng định lại nội dung, nghệ thuật, khẳng định tài năng của tác giả.



 

Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 2 

Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 2 (Đề 4)

Đề kiểm tra Ngữ Văn 10 - Học kì 2
Thời gian làm bài: 45 phút

Phần I. Đọc hiểu (5 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
   Mẹ ta không có yếm đào
Nón mê thay nón quai thao đội đầu
   Rối ren tay bí tay bầu
Váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa
   Cái cò…sung chát…đào chua
Câu ca mẹ hát gió đưa về trời
   Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru
   (Trích Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa – Nguyễn Duy)

Câu 1: Xác định các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên.
Câu 2: Trong bốn câu thơ đầu, hình ảnh người mẹ được gợi lên qua những chi tiết nào?
Câu 3: Hãy chỉ ra những câu thơ sử dụng chất liệu ca dao trong đoạn trích?
Câu 4: Nghĩa của từ đi trong hai câu thơ cuối là gì?

Phần II. Làm văn (5 điểm)
Anh/chị hãy cảm nhận tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn thơ sau:
   Chiếc vành với bức tờ mây,
Duyên này thì giữ vật này của chung.
   Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
   Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
   Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy so tơ phím này.
   Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
   Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
   Dạ đài cách mặt khuất lời,
Rưới xin giọt nước cho người thác oan.
   (Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du, Ngữ Văn 10, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam)





Đáp án và thang điểm
Phần I: Đọc hiểu.
Câu 1. Các phương thức biểu đạt: Tự sự, miêu tả, biểu cảm.
Câu 2. Hình ảnh người mẹ được gợi lên trong bốn câu thơ đầu qua các chi tiết: yếm đào, nón mê, nón quai thao, tay bí, tay bầu, váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu.
Câu 3. Những câu thơ sử dụng chất liệu ca dao trong đoạn trích:
Cái cò ...sung chát...đào chua
Câu ca mẹ hát gió đưa về trời
Câu 4. Nghĩa của từ đi trong hai câu thơ: ta đi trọn kiếp người/cũng không đi hết mấy lời mẹ ru
• Chữ đi trong câu thơ thứ nhất nghĩa là: sống, là trải qua kiếp người.
• Chữ đi trong câu thơ thứ hai nghĩa là: thấu hiểu và cảm nhận.

Phần II: Làm văn
* Mở bài: Giới thiệu về tác giả, tác phẩm, đoạn trích.
* Thân bài:
- Nêu hoàn cảnh, xuất xứ đoạn trích:
+ Tình yêu của Kim-Kiều đang mặn nồng thì gia đình Kiều gặp tai biến. Kiều quyết định bán mình chuộc cha.
+ Đêm trước ngày đi theo Mã Giám Sinh, Kiều đã nhờ Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng. Sau lời trao duyên, Kiều trao kỉ vật tình yêu cho Thúy Vân.
- Tâm trạng của Kiều sau khi trao kỉ vật: Có sự giằng xé giữa từ bỏ và níu kéo càng làm rõ hơn nỗi đau khi mất tình yêu.
- Sau khi trao kỉ vật tình yêu, Kiều tưởng tượng ra một tương lai xót xa: đó là cái chết, là một oan hồn, cầu xin người thân hãy hóa giải linh hồn đau khổ...
→ Tình yêu mãnh liệt, đắm say mà Thúy Kiều dành cho Kim Trọng, khi tình yêu không còn thì cũng coi như mình đã chết.
- Nghệ thuật của đoạn trích: Phân  Làm nổi bật tâm trạng của Thúy Kiều khi tình yêu tan vỡ và những phẩm chất đáng quý của Thúy Kiều trong tình yêu. Đoạn trích cũng cho thấy sức cảm thông lạ lùng của Nguyễn Du dành cho Thúy Kiều.Þtích tâm lý tinh tế, kết hợp giữa độc thoại và đối thoại

* Kết bài: Đánh giá những thành công về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây