Liên hệ zalo
Phần mềm bán hàng toàn cầu
Bán tài liệu, giáo án tất cả các môn toán, lý,hoá,sinh,văn,sử,địa,tiếng anh, công dân,

Bộ đề thi thử THPTQG môn Văn 2022

Thứ năm - 24/06/2021 11:38
Đề thi thử môn ngữ văn 2022 trường thpt Nguyễn Trãi
Bộ đề thi thử THPTQG môn Văn 2022
Bộ đề thi thử THPTQG môn Văn 2022
TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI              MA TRẬN ĐỀ KHẢO SÁT CL TỐT NGHIỆP THPT  
                                                                   BÀI THI MÔN: NGỮ VĂN
NĂM HỌC: 2021 - 2022
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề
1. Mục tiêu:
 - Đánh giá kĩ năng đọc - hiểu một văn bản thơ.
 - Đánh giá việc HS vận dụng kiến thức kĩ năng đã học viết đoạn văn NLXH, bài văn nghị luận văn học.
 - Cụ thể: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng các đơn vị kiến thức:
+ Kiến thức về đọc - hiểu văn bản:  thể thơ, nội dung, thông điệp.
+ Kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội: Tư tưởng đạo lí
+ Kĩ năng làm bài nghị luận văn học: Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi.
2. Hình thức kiểm tra:  Tự luận.
3. Ma trận   
TT Kĩ năng Mức độ nhận thức Tổng
%

Tổng
điểm
 
Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Vận dụng cao
Tỉ lệ
(%)
Thời gian
(phút)
Tỉ lệ
(%)
Thời gian
(phút)
Tỉ lệ
(%)
Thời gian
(phút)
Tỉ lệ
(%)
Thời gian
(phút)
Số câu hỏi
 
Thời gian
(phút)
1 Đọc  hiểu 15 10 10 10 5 5     4 25  30
2 Viết đoạn văn  nghị luận xã hội 5 10 5 15 5 5 5 5 1 35  20
3 Viết bài văn nghị luận văn học 20 20 15 15 10 15 5 10 1 60  50
Tổng 40 40 30 40 20 25 10 15 6 120 100
Tỉ lệ % 40 30 20 10     100
Tỉ lệ chung 70 30   100
 
 




TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI                        ĐỀ KHẢO SÁT CL TỐT NGHIỆP THPT (LẦN 3)
                                                                                       BÀI THI  MÔN : NGỮ VĂN
                                                                                             NĂM HỌC : 2021 - 2022
                                                               Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ và tên.....................................................................Phòng thi:................Số báo danh:......................
 
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
 Đọc bài thơ:
Anh ra khơi
Mây treo ngang trời những cánh buồm trắng
Phút chia tay, anh dạo trên bến cảng
Biển một bên và em một bên.

Biển ồn ào, em lại dịu êm
Em vừa nói câu chi rồi mỉm cười lặng lẽ
Anh như con tàu lắng sóng từ hai phía
Biển một bên và em một bên.

Ngày mai, ngày mai khi thành phố lên đèn
Tàu anh buông neo dưới chùm sao xa lắc
Thăm thẳm nước trời, nhưng anh không cô độc
Biển một bên và em một bên.

Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên
Bão thổi chưa ngừng trong những vành tang trắng
Anh đứng gác. Trời khuya. Đảo vắng
Biển một bên và em một bên.

Vòm trời kia có thể sẽ không em
Không biển nữa. Chỉ mình anh với cỏ
Cho dù thế thì anh vẫn nhớ
Biển một bên và em một bên...

              (Thơ tình người lính biển, Trần Đăng Khoa, Bên cửa sổ máy bay
                                                                                                                        NXB Tác phẩm mới, 1985)
Thực hiện các yêu cầu :

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên
Câu 2. Trong bài thơ, người lính biển dành tình yêu cho những đối tượng nào?
Câu 3. Những dòng thơ sau giúp anh/chị hiểu gì về người lính biển?
Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên
Bão thổi chưa ngừng trong những vành tang trắng
Anh đứng gác. Trời khuya. Đảo vắng
Biển một bên và em một bên.

Câu 4.  Thông điệp nào trong bài thơ có ý nghĩa nhất với anh/chị?

II.  LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1(2,0 điểm)
      Từ nội dung bài thơ ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của sự cống hiến.
Câu 2 (5,0 điểm)
Đế Thích: Ông Trương Ba... (đắn đo rất lâu rồi quyết định) Vì lòng quí mến ông, tôi sẽ làm cu Tị sống lại, dù có bị phạt nặng... Nhưng còn ông... rốt cuộc ông muốn nhập vào thân thể ai?
Hồn Trương Ba: (sau một hồi lâu): Tôi đã nghĩ kĩ... (nói chậm và khẽ) Tôi không nhập vào hình thù ai nữa! Tôi đã chết rồi, hãy để tôi chết hẳn!
Đế Thích: Không thể được! Việc ông phải chết chỉ là một lầm lẫn của quan thiên đình. Cái sai ấy đã được sửa bằng cách làm cho hồn ông được sống.
Hồn Trương Ba: Có những cái sai không thể sửa được. Chắp vá gượng ép chỉ càng làm sai thêm. Chỉ có cách là đừng bao giờ sai nữa, hoặc phải bù lại bằng một việc đúng khác. Việc đúng còn làm kịp bây giờ là làm cu Tị sống lại. Còn tôi, cứ để tôi chết hẳn...
Đế Thích: Không! Ông phải sống, dù với bất cứ giá nào...
Hồn Trương Ba: Không thể sống với bất cứ giá nào được, ông Đế Thích ạ! Có những cái giá đắt quá, không thể trả được... Lạ thật, từ lúc tôi có đủ can đảm đi đến quyết định này, tôi bỗng cảm thấy mình lại là Trương Ba thật, tâm hồn tôi lại trở lại thanh thản, trong sáng như xưa...
Đế Thích: Ông có biết ông quyết định điều gì không? Ông sẽ không còn lại một chút gì nữa, không được tham dự vào bất cứ nỗi vui buồn gì! Rồi đây, ngay cả sự ân hận về quyết định này, ông cũng không có được nữa.
Hồn Trương Ba: Tôi hiểu. Ông tưởng tôi không ham sống hay sao? Nhưng sống thế này, còn khổ hơn là cái chết. Mà không phải chỉ một mình tôi khổ! Những người thân của tôi sẽ còn phải khổ vì tôi! Còn lấy lí lẽ gì khuyên thằng con tôi đi vào con đường ngay thẳng được? Cuộc sống giả tạo này có lợi cho ai? Họa chăng chỉ có lão lí trưởng và đám trương tuần hỉ hả thu lợi lộc! Đúng, chỉ bọn khốn kiếp là lợi lộc.
(Trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Lưu Quang Vũ, Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.151-152)
           Cảm nhận của anh/chị về nhân vật hồn Trương Ba trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét chiều sâu triết lí về con người của nhà văn Lưu Quang Vũ.

                                                                   ---- HẾT ---








TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI        ĐÁP ÁN VÀ HDC ĐỀ KSCL TỐT NGHIỆP  THPT (LẦN 3)
                                                                                    BÀI THI MÔN : NGỮ VĂN
NĂM HỌC 2021 - 2022
                                                                 (Hướng dẫn chấm gồm 04 trang)
Phần Câu Nội dung Điểm
I   ĐỌC HIỂU 3,0
  1 Thể thơ : Tự do 0,75
2 Người lính biển dành tình yêu cho 2 đối tượng: biển và em 0,75
3  - Người lính dũng cảm, kiên cường đối mặt với gian lao; tư thế hiên ngang bảo vệ biển trời Tổ quốc.
- Tình yêu lứa đôi hòa quyện với tình yêu đất nước.

1,0
4  - Có thể lựa chọn thông điệp về lí tưởng sống hoặc một đặc điểm nào đó của tuổi trẻ: Cống hiến, kiên cường, mạnh mẽ...
- Học sinh phải trình bày thuyết phục về thông điệp đã lựa chọn
0,25

0,25
II   LÀM VĂN 7,0
  1 Từ nội dung bài thơ ở phần Đọc hiểu, viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sự cống hiến. 2,0
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn
Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.

0,25
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận : ý nghĩa của sự cống hiến 0,25
c. Triển khai vấn đề nghị luận
Thí sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách. Định hướng:
- Cống hiến là đóng góp những phần cao quý của mình cho sự nghiệp chung. Biểu hiện ở việc con người bỏ qua những lợi ích cá nhân, sự ích kỉ tầm thường của bản thân; đem hết tài năng, trí tuệ, sức lực của mình đóng góp cho cộng đồng, xã hội.
- Ý nghĩa của sự cống hiến:
+ Thể hiện sự nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm của con người đối với cuộc đời, đóng góp vào sự phát triển của xã hội.
+ Khẳng định được giá trị của bản thân, từ đó cuộc sống trở nên có ý nghĩa.
+ Giữ gìn, tiếp nối truyền thống tốt đẹp của cha ông trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
(Dẫn chứng)
- Xã hội sẽ đẹp hơn nếu ai cũng biết cống hiến, thế giới sẽ văn minh hơn nếu nhân loại ai ai cũng luôn sẵn sàng đem hết trí tuệ, tài năng của bản thân để phục vụ lợi ích chung. Bởi vậy, thế hệ trẻ cần xác lập lí tưởng sống đúng đắn, tránh xa lối sống vị kỉ, tầm thường, đem trí tuệ, sức lực của mình cống hiến cho đất nước.




1,0
d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. 0,25
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. 0,25
2 Cảm nhận của anh/chị về nhân vật hồn Trương Ba trong đoạn trích khi đối thoại với Đế Thích. Từ đó, nhận xét chiều sâu triết lí về con người của nhà văn Lưu Quang Vũ. 5,0
  a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận
Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài khái quát được vấn đề cần nghị luận.
0,25
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận
         Nhân vật hồn Trương Ba trong đoạn trích khi đối thoại với Đế Thích; chiều sâu triết lí về con người của nhà văn Lưu Quang Vũ.
0,5
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng, bảo đảm các yêu cầu sau:
 
* Giới thiệu khái quát về tác giả, vở kịch, đoạn trích, nhân vật:  Lưu Quang Vũ, một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch trường những năm tám mươi của thế kỉ XX;  Giới thiệu về đoạn trích, nhân vật hồn Trương Ba. 0,5
* Cảm nhận nhân vật hồn Trương Ba trong đoạn trích
- Hoàn cảnh xuất hiện cuộc đối thoại: hồn Trương Ba sau một thời gian sống trong xác anh hàng thịt, bị xác thịt làm mất đi bản chất trong sạch, ngay thẳng, bị người thân từ chối, vô cùng dằn vặt đau khổ. Hồn Trương Ba quyết định trả thân xác cho anh hàng thịt để anh được đoàn tụ gia đình, không chấp nhận để Đế Thích cho nhập vào xác cu Tị. Ông xin cho cu Tị được sống lại, còn mình được chết hẳn.
- Hồn Trương Ba đã rất thẳng thắn khi phê phán sai lầm của Đế Thích
Có những cái sai không thể sửa được. Chắp vá và gượng ép chỉ làm sai thêm. Chỉ có cách là đừng bao giờ sai nữa, hoặc phải bù lại bằng một việc đúng khác”. Từ sự nhầm lẫn, tắc trách của quan  thiên đình, Trương Ba phải chết oan. Đế Thích sửa sai bằng cách cho ông sống lại trong thân xác của anh hàng thịt nhưng đây chỉ là sự chắp vá gượng ép, sai càng thêm sai vì từ đó hồn Trương Ba đã gặp biết bao nhiêu bi kịch.
- Nhân vật hồn Trương Ba có quan niệm sống đúng đắn: sống là chính mình, sống vị tha, cao thượng, nhân hậu:
  + Hồn Trương Ba muốn bù lại bằng một việc đúng khác là cho cu Tị được sống lại. Việc làm đó chứng tỏ ông đã vì sự sống và tương lai  con trẻ, ông thấu hiểu nỗi đau khổ của người mẹ khi mất đứa con. Vì hạnh phúc của người khác mà ông tự nguyện xin được chết. Ông cho rằng đây mới chính là việc đúng mà Đế Thích nên làm.
  + Với quyết định này, Trương Ba đã tự viết nên cái kết có hậu cho cuộc đời mình và cho những người xung quanh. Mặc dù sự sống của Trương Ba đã sắp đi đến hồi kết thúc nhưng Trương Ba đã tìm thấy lại được con người thật của chính bản thân mình: “Lạ thật, từ lúc tôi có đủ can đảm đi đến quyết định này, tôi bỗng cảm thấy mình lại là Trương Ba thật, tâm hồn tôi lại trở lại thanh thản, trong sáng như xưa...”. Không chỉ phục sinh lại những giá trị tốt đẹp của bản thân, Trương Ba còn trở nên bất tử trong suy nghĩ của tất cả những người thân bằng tình cảm nhớ thương, yêu quý, kính trọng.   
   + Với Trương Ba, sự sống vô cùng đáng quý Ông tưởng tôi không ham sống hay sao?”, nhưng Hồn Trương Ba lại quyết định “không muốn nhập vào hình thù ai nữa”. Vì sống mà mình không còn là mình, bắt người thân phải khổ vì mình thì đó là cái giá không thể trả được. Những lập luận cho thấy vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, nhân hậu của Hồn Trương Ba
    + Hồn Trương Ba thẳng thắn kết luận: “Cuộc sống giả tạo này có lợi cho ai? Họa chăng chỉ có lão lí trưởng và đám trương tuần hỉ hả thu lợi lộc! Đúng, chỉ bọn khốn kiếp là lợi lộc”. Thái độ ấy thể hiện tinh thần đấu tranh quyết liệt chống lại sự giả dối, vụ lợi của Hồn Trương Ba
    + Cách giải quyết của hồn Trương Ba là duy nhất đúng và toàn vẹn nhất dù cách đó có thể khiến Hồn Trương Ba vĩnh viễn rời xa cuộc đời này, thậm chí “cả sự ân hận về quyết định này, ông cũng không có được nữa”. Vì chỉ khi “chết hẳn”, Hồn Trương Ba mới tìm lại được sự thanh thản, trong sáng; những người thân của Trương Ba cũng sẽ không còn phải khổ vì ông; thằng con của Trương Ba sẽ có cơ hội trở lại con đường ngay thẳng. Cho đến phút cuối cùng, Hồn Trương Ba vẫn rất nhân hậu, vị tha.
=> Khái quát: Những lời thoại của hồn Trương Ba với Đế Thích chứng tỏ nhân vật đã ý thức rõ về tình cảnh trớ trêu, đầy tính chất bi hài của mình, thấm thía nỗi đau khổ về tình trạng ngày càng vênh lệch giữa hồn và xác, càng chứng tỏ sự nung nấu về quyết tâm giải thoát, toát lên những phẩm chất cao đẹp của nhân vật. Qua màn đối thoại, có thể thấy tác giả gửi gắm nhiều thông điệp vừa trực tiếp vừa gián tiếp, vừa mạnh mẽ, quyết liệt vừa kín đáo và sâu sắc về thời đại chúng ta đang sống, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của những người lao động trong cuộc đấu tranh chống lại sự dung tục, giả tạo để bảo vệ quyền được sống toàn vẹn, hợp với lẽ tự nhiên cùng sự hoàn thiện nhân cách.
- Về nghệ thuật đoạn trích:
+ Sáng tạo lại cốt truyện dân gian, xây dựng tình huống giàu kịch tính, xây dựng xung đột tự nhiên, hấp dẫn.
+ Khắc họa thành công tính cách nhân vật Hồn Trương ba qua đối thoại, làm nổi bật được nét cá tính và những phẩm chất quan trọng
+ Ngôn ngữ kịch giản dị, chân thật, sâu sắc; vừa triết lí vừa trữ tình diễn tả được quá trình đấu tranh với bản thân, với hoàn cảnh để vươn tới sự hoàn thiện nhân cách

0,25




0,25





1,5


































0,5
* Nhận xét chiều sâu triết lí về con người của nhà văn Lưu Quang Vũ.
 - Đoạn trích nói riêng và vở kịch nói chung đã thể hiện chiều sâu triết lí về con người của Lưu Quang Vũ. Được sống làm người thì quý giá thật, nhưng được sống là chính mình còn quý giá hơn. Sự sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người được sống tự nhiên với sự hài hòa giữa thể xác và tâm hồn. Con người phải luôn biết đấu tranh với những nghịch cảnh, với bản thân, chống lại sự dung tục, giả tạo để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý
- Đây là triết lí nhân sinh sâu sắc và mới mẻ. Tác giả đã đặt ra nhiều vấn đề về con người, về cuộc sống. Các vấn đề đặt ra không chỉ có ý nghĩa với mỗi cá nhân mà còn có ý nghĩa xã hội, đúng với mọi thời đại. Triết lí thể hiện tư tưởng hiện thực và tư tưởng nhân đạo sâu sắc; khẳng định sự nỗ lực đổi mới trong tư duy nghệ thuật của tác giả. Lưu Quang Vũ xứng đáng giữ vị trí đặc biệt trong nền sân khấu kịch trường Việt Nam cuối thế kỉ XX
0,5
d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. 0,25
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. 0,5
                                                                 TỔNG ĐIỂM 10,0
 
                                       -------------------Hết--------------------




 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

DANH MỤC ĐỀ THI
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây